1500 Câu hỏi Nghành Điện | 18 – 2 Sử dụng đồng hồ điện thường dùng

 

18 – 2 – 1
Hỏi: Sau khi sử dụng xong ampe kế, micron ampe kế và mili vôn kế, tại sao thường dùng một sợi dây đồng nối các trụ đầu dây của chúng?
Đáp: Bởi vì các loại đồng hồ đo này là kiểu điện từ, cuộn dây, trục và kim của chúng đều hết sức nhỏ, giòn yếu, cho nên khi di chuyển đồng hồ có thể khiến chúng dao động mạnh, gây hỏng. Nhưng sau khi dùng sợi dây đồng nối trụ đấu dây của chúng lại, nếu khi cuộn dây do tác dụng của lực cơ giới bên ngoài mà chuyển động thì trong cuộn dây sẽ sinh ra dòng điện (tương đương với một máy phát điện một chiều), từ đó sinh ra lực hãm, khiến cuộn dây không thể dao động nhanh, như vậy có thể phòng ngừa hỏng đồng hồ.

18 – 2 – 2
Hỏi: Khi đặt xếp đồng hồ điện kiểu xách tay, tại sao phải để đứng mặt cạnh?
Đáp: Đồng hồ kiểu xách tay tương đối tinh vi, đều đặt nằm ngang để sử dụng, do đó trục được lắp thẳng đứng. Nếu khi không dùng mà cũng để ngang sẽ khiến đầu nhọn trục phía dưới ép lâu dài lên ổ trục khiến đầu nhọn trục và ổ trục đều hỏng. Nếu để đứng mặt cạnh, trục chỉ gác lên ổ trục làm cho đồng hồ có thể duy trì độ nhạy và độ chính xác, và kéo dài thời gian sử dụng.

18 – 2 – 3
Hỏi: Tại sao khi sử dụng kiểm dòng kế (kiêm lưu kế), nhất định phải điều chỉnh nó đến vị trí nằm ngang bằng?
Đáp: Kiểm dòng kế nói chung đều dùng dây căng hoặc dây treo để đỡ bộ phận hoạt động. Nếu không điều chỉnh đến vị trí nằm ngang thì cuộn dây hoạt động của kiểm dòng kế sẽ rời khỏi vị trí thẳng đứng, sinh ra bị nghiêng. Như vậy cuộn dây quay trong khe hở làm việc của từ trường sẽ khó khăn. Cho nên trước tiên phải điều chỉnh đến vị trí ngang bằng.

18 – 2 – 4
Hỏi: Tại sao khi hiệu chỉnh đồng hồ điện phải căn cứ vào số đọc của điểm cần kiểm tra trên đồng hồ cần hiệu chỉnh để điều chỉnh độ lớn cần đo mà không điều chỉnh theo số đọc của đồng hồ chuẩn?
Đáp: Khi hiệu chỉnh đồng hồ, điều chỉnh độ lớn cần đo đến vạch chia điểm cần hiệu chỉnh trên đồng hồ cần hiệu chỉnh (nói chung đều là vạch chia có chữ số hoặc chỗ có vạch dài trên thước chia độ), lúc này kim của đồng hồ chuẩn chưa chắc ở đúng vạch chia, làm như vậy chủ yếu là xét đến sự tiện lợi của đọc số. Bởi vì, nếu trước tiên căn cứ vào chữ số trên thước chia độ của đồng hồ chuẩn để điều chỉnh cân đo, thì rất có thể kim của đồng hồ chuẩn chỉ trên vạch chia, còn kim của đồng hồ cần hiệu chỉnh lại ở giữa vạch chia. Do cấp của đồng hồ chuẩn nhất định cao hơn đồng hồ cần hiệu chỉnh, chia ô phải nhiều hơn, cho nên để kim của đồng hồ cần hiệu chỉnh ở trên vạch chia, còn kim của đồng hồ chuẩn ở giữa vạch chia, như vậy đọc số tương đối thuận lợi.

18 – 2 – 5
Hỏi: Tại sao khi hiệu chỉnh đồng hồ điện, giữa đồng hồ chuẩn với đồng hồ cần hiệu chỉnh tối thiểu phải cách 1 mét? Hơn nữa tốt nhất bố trí hai đồng hồ theo hướng đông – tây?
Đáp: Khi hiệu chỉnh đồng hồ, từ trường của hai đồng hồ sẽ ảnh hưởng lẫn nhau. Về bản chất thì ảnh hưởng này cũng giống như từ trường bên ngoài. Nếu để xa ra một chút, ảnh hưởng sẽ nhỏ. Hai đồng hồ để theo chiều đông – tây, chủ yếu là xét đến giảm thiểu ảnh hưởng địa tử chiều nam bắc.

18 – 2 – 6
Hỏi: Tại sao khi dùng đồng hồ kiểu điện từ làm đồng hồ chuẩn để hiệu chỉnh
đồng hồ hai tác dụng: xoay chiều, một chiều kiểu điện động, không thể dùng nguồn điện chỉnh lưu thông thường?
Đáp: Đồng hồ kiểu điện từ phản ánh là trị số bình quân cần đo, còn đồng hồ kiểu điện động phản ánh là trị số hữu hiệu. Trong dòng điện đầu ra của máy chỉnh lưu phổ thông bán trên thị trường luôn luôn là thành phần mạch động. Vì thế, trong tình hình này, chỉ thị của đồng hồ kiểu điện động luôn lớn hơn kiểu điện từ.

18 – 2 – 7
Hỏi: Chỉ dùng một sợi dây đồng trần làm sao xác định cuộn dây của mV kế một chiều có bị đứt hay không?
Đáp: Trước tiên lắc đồng hồ một cái, chú ý kim đồng hồ dao động qua trái qua phải, sau đó dùng dây đồng trần nối liền hai trụ đầu dây “+” ,”-” của mV kế, lại lắc như vừa rồi lần nữa, chú ý tình hình dao động của kim đồng hồ. Nếu sau khi đấu đây đồng vào, kim đồng hồ dao động chậm hơn, chứng tỏ cuộn dây thông mạch, nếu hai lần lắc, dao động như nhau, thì cuộn dây đã đứt. Nguyên lý là thế này: mV kế một chiều đều là đồng hồ kiểu điện từ. Khi kim đồng hồ dao động, cuộn dây trong đồng hồ cắt từ trường của nam châm vĩnh cửu, sinh ra thế điện động, nếu cuộn dây hình thành một mạch điện khép kín thì có thể sinh ra dòng điện trong cuộn dây, còn chiều của lực do tác dụng lẫn nhau với từ trường sinh ra vừa vặn ngược với chiều vận động, thế là giảm được sự dao động của kim đồng hồ.

18 – 2 – 8
Hỏi: Tại sao tay ướt cầm hai sợ dây dẫn bằng vật liệu khác nhau trên kiểm dòng kế hoặc mA kế sẽ có thể kiểm nghiệm được cuộn dây của đồng hồ này còn hoàn toàn tốt không?
Đáp: Đặt hai miếng kim loại cùng với nhau sẽ có thể tạo thành nhiệt ngẫu nhưng phải bảo đảm có chênh lệch nhiệt độ nhất định và phần đầu của hai miếng kim loại phải tiếp xúc tốt. Khi tay ướt cầm vào chúng, nhiệt lượng trên tay sẽ truyền đến kim loại. Hơn nữa, do nguyên nhân ẩm ướt, tiếp xúc sẽ tốt, thế là sinh ra điện thế nhiệt, khiến kim kiểm dòng kế hoặc mA kế quay lệch, như vậy có thể phán đoán cuộn dây có hoàn toàn tốt không.

18 – 2 – 9
Hỏi: Khi đo điện áp, làm sao loại trừ sai số đo do điện trở bên trong vôn kế gây ra?
Đáp: Khi đo điện áp, có thể chọn sử đụng vôn kế có điện trở trong rất cao để đo hoặc có thể dùng hai vôn kế có điện trở trong lần lượt là RVl, RV2 mỗi cái do một lần trong mạch tuyến tính, được điện áp Ul, U2, sau đó căn cứ vào công thức:
U =
Tính ra điện áp thực tế U, như vậy sẽ có thể loại trừ được sai số đo do điện trở bên trong vôn kế gây ra.

18 – 2 – 10
Hỏi: Tại sao khi hiệu chỉnh máy ổn áp kiểu bão hòa từ, tốt nhất không sử dụng vôn kế kiểu lõi sắt động làm đồng hồ chỉ thị?
Đáp: Đồng hồ điện kiểu lõi sắt động hoạt động dựa vào tác dụng hút của từ trường do cuộn dây thông điện sinh ra đối với phiến sắt. Từ trường do cuộn dây sinh ra phần lớn ở trong không khí, ảnh hưởng của từ trường bên ngoài đối với nó rất lớn. Từ thông rò do máy ổn áp bão hòa tử sinh ra đủ ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của đồng hồ kiểu lõi sắt di động, khiến chỉ thị không chính xác gây nên sai số đo. Trong trường hợp này, tốt nhất không dùng đồng hồ kiểu này. Nếu buộc phải sử dụng thì nên để nó cách xa máy ổn áp từ 2 – 3m thì ảnh hưởng của từ trường đối với đồng hồ mới nhỏ đến mức có thể bỏ qua.

18 – 2 – 11
Hỏi: Các loại đồng hồ như ampe kế, vôn kế, đồng hồ do công suất v.v… đòi hỏi phải hết sức nhạy, linh hoạt. Liệu có thể dùng dầu để bôi trơn ổ trục?
Đáp: Các loại đồng hồ lợi dụng một điểm của đầu nhọn trục để đỡ. Sau khi cho dầu vào, dầu sẽ làm tăng lực cản, mặt khác ngày càng lâu sẽ bám thêm bụi, đất, tăng thêm lực cản, làm giảm độ nhạy của đồng hồ. Cho nên không dược dùng dầu để bôi trơn.

18 – 2 – 12
Hỏi: Tại sao khi chọn đồng hồ đo, phải làm sao trị số cần đo vào khoảng 1/3 thang đo của đồng hồ trở lên là tương đối tốt?
Đáp: Giữa trục và ổ đỡ của đồng hồ tồn tại mô men lực ma sát nhất định. Chiều của mô men lực ma sát này ngược với chiều mô men quay do đồng hồ sinh ra. Khi đo tham số tương đối nhỏ (dòng điện, điện áp v.v…) mômen quay điện tương đối nhỏ, bộ phận bị mômen lực ma sát triệt tiêu tương đối lớn, do đó làm cho sai số tương đối lớn. Khi đo tham số tương đối lớn, mômen quay điện tương đối lớn, bộ phận bị mômen quay ma sát triệt tiêu tương đối nhỏ, vì thế sai số nhỏ. Khi tham số được đo của đồng hồ nói chung ở 1/3 thang đo của đồng hồ trở lên thì mômen quay điện đủ lớn, bộ phận mômen lực ma sát bị triệt tiêu sẽ nhỏ, có thể bỏ qua không tính. Do đó, cơ bản duy trì được độ chính xác cần có của nó.

18 – 2 – 13
Hỏi: Dùng vôn kế cấp 0.5 – 100 vôn và cấp 1.5 – 10 vôn lần lượt đo điện áp 9 vôn, kết quả đo của đồng hồ nào chính xác?
Đáp: Dùng vôn kế cấp 1.5 – 10 vôn đo điện áp 9 vôn tương đối chính xác. Bởi vì nói cấp sai số của đồng hồ là nói số phần trăm đối với tầm đo của nó. Nếu vôn kế cấp 0.5 – 100 vôn thì sai số mỗi vạch chia của nó đều cho phép trong 0.5% của 100 vôn, tức sai số ở chỗ các vạch chia đều cho phép trong 0.5 vôn, cũng như vậy, sai số ở chỗ các vạch chia của vôn kế cấp 1.5 – 10 vôn cho phép trong 0.15 vôn. Vì thế khi dùng vôn kế cấp 0.5 vôn – 100 vôn đo điện áp 9 vôn thì sai số lớn nhất của nó có thể đạt 0.5 vôn. Còn khi dùng vôn kế cấp 1.5 vôn – 10 vôn để đo thì sai số lớn nhất của nó là 0.15 vôn. Cho nên khi chọn đồng hồ điện, ngoài việc phải chú ý cấp của nó ra còn phải căn cứ vào độ lớn cần đo để chọn tầm đo thích hợp. Khi lượng cần đo gần với đầy thang đo điện áp thì sai số càng nhỏ. Nói chung, lấy kim có thể quay đến trên 1/2 đầy thang đo của điện áp là tốt.

18 – 2 – 14
Hỏi: Điện trở trong của vôn kế bóng chân không rất lớn, dùng nó để đo điện áp tần số chung liệu có chính xác hơn vôn kế cấp 2.5 phổ thông không?
Đáp: Điện trở trong của vôn kế bóng chân không rất lớn, khi đo có thể giảm thiểu ảnh hưởng đối với sự hoạt động của mạch điện, cho nên đặc biệt thích hợp với đo mạch điện bóng điện tử, mà cũng thích hợp với đo điện áp tín hiệu cao tần. Nhưng khi dùng nó đo điện áp tần số chung, do tính ổn định của nó kém, dẫn đến sai số tương đối lớn. Sai số của nó ngoài sai số cơ bản của đồng hồ ra còn có các sai số phụ như bóng bán dẫn, tần số, nguồn điện và nhiệt độ môi trường biến động v.v… Tổng sai số có thể đạt tới 5%. Còn vôn kế cấp 2.5 thì sai số chỉ 2.5%. Cho nên khi sử dụng vôn kế bóng chân không để đo điện áp tần số chung thì độ chính xác của nó, ngược lại, thấp hơn vôn kế cấp 2.5 phổ thông.

18 – 2 – 15
Hỏi: Hai vôn kế 150 vôn nối tiếp với nhau, có thể đo điện áp 300 vôn được không?
Đáp: Nếu hai vôn kế này cổ điện trở bằng nhau thì có thể dùng được. Nếu không, số đọc của vôn kế có điện trở tương đối lớn sẽ vượt quá 150 vôn, còn một số đọc khác sẽ nhỏ hơn 150 vôn.

18 – 2 – 16
Hỏi: Khi đo điện áp của mạch điện một chiều điện cảm cao, vôn kế nên đấu dây theo đường nét đứt hay theo đường nét liền trong hình 18 – 2 – 16?
Đáp: Nếu vôn kế đấu dây theo đường nét đứt thì khi công tắc cắt nguồn điện, do trong mạch điện cảm có điện thế tự cảm rất cao sẽ làm hỏng vôn kế. Nên vôn kế phải đấu bên trái công tắc đường điện.

18 – 2 – 17
Hỏi: Trong mạch chỉnh lưu thể hiện ở hình 18 – 2 – 17. V1 là vôn kế hệ điện từ, V2 là vôn kế hệ điện động (điện trở trong hai vôn kế gần bằng nhau). K ngắt ra, trị số hai đồng hồ cơ bản giống nhau. K đóng lại số đọc của hai đồng hồ khác nhau. Tại sao?
Đáp: Đồng hồ hệ điện từ chỉ có thể đo điện một chiều, đồng hồ hệ điện động có thể đo điện xoay chiều, một chiều. Khi K ngắt ra, do tác dụng lọc sóng của tụ C, khiến xung của điện áp UAB giữa hai điểm A, B rất nhỏ (điện trở trong của đồng hồ tương đối lớn), cơ bản là điện áp một chiều, nên hai đồng hồ chỉ thị đại thể giống nhau. Khi K đóng, phụ. tải Rfz đấu vào, tham số thời gian phóng điện của C giảm, mạch động của UAB tăng lên, khiến thành phần xoay chiều tăng. Lúc này V1 phản ánh là trị số bình quân của điện áp mạch động này, V2 phản ánh là trị số hữu hiệu của điện áp mạch động này. Nên số đọc của hai đồng hồ khác nhau, mà số đọc của V2 lớn hơn số đọc của V1.

18 – 2 – 18
Hỏi: Dùng hai vôn kế A, B lần lượt đo điện áp. Khi vôn kế A đo điện áp 300V thì sai số là 3 vôn. Khi vôn kế B đo điện áp 50 vôn thì sai số là 2.5 vôn. Độ chính xác đo của đồng hồ nào cao hơn?
Đáp: Xét từ sai số tuyệt đối thì sai số của vôn kế A lớn hơn, nhưng độ chính xác đo phải xét từ sai số tương đối, sai số tương đối đo của vôn kế A là 1%, sai số tương đối đo của vôn kế B là 5%. Qua đó có thể thấy độ chính xác đo của vôn kế A cao hơn.

18 – 2 – 19
Hỏi: áp dụng hình 18 – 2 – 19 để hiệu chỉnh độ ổn định của điện áp xoay chiều đầu ra máy ổn áp xoay chiều điện tử, đầu ra của nó dùng một đồng hồ xoay chiều kiểu kim có độ chính xác tương đối cao và một vôn kế chữ số xoay chiều để giám sát. Kết quả số đọc của vôn kế xoay chiều kiểu kim và vôn kế chữ số xoay chiều chênh lệch nhau rất lớn. Tại sao?
Đáp: Độ chính xác đo của vôn kế chữ số xoay chiều cao, đọc số trực quan tiện lợi nhưng nguyên lý hoạt động của nó là áp dụng trị số bình quân, tức số đọc của nó là trị số bình quân của điện áp xoay chiều. Vì thế, chỉ khi tín hiệu cần đo là sóng sin thuần mới có thể đọc dược chính xác trị số hữu hiệu, hơn nữa loại đồng hồ chỉ số xoay chiều này hết sức nhạy với hình sóng tín hiệu cần đo. Đối với sóng sin mà nói, độ méo càng lớn thì sai số. đọc cũng càng lớn. Còn số đọc của vôn kế xoay chiều kiểu kim là trị số hữu hiệu. Bởi vì hình sóng đầu ra của máy ổn áp xoay chiều điện tử méo nghiêm trọng (không phải là sóng hình sin nghiêm chỉnh), cho nên chênh lệch số đọc của hai cái tất nhiên rất lớn. Nếu dùng hai loại đồng hồ trên đây để đo điện lưới, vì hình sóng của điện lưới cơ bản là sóng sin, cho nên sẽ không xảy ra vấn đề nói trên.

18 – 2 – 20
Hỏi: Khi dùng vôn kế đo điện áp, hy vọng điện trở trong đồng hồ rv càng lớn càng tốt. Nếu đấu dây dẫn rất dài trên vôn kế, sau đó mới đo điện áp, liệu có thể đo dược chính xác hơn không?
Đáp: áp dụng phương pháp này đo điện áp, không những không nâng cao được độ chính xác, ngược lại khiến điện áp đo được không phù hợp với tình hình thực tế. Đó là do khi dây dẫn đấu ngoài của đồng hồ rất dài, trên dây dẫn sẽ sinh ra sụt áp rất lớn, thế là điện áp mà đồng hồ đo được sẽ tương đối nhỏ, so với điện áp thực tế sẽ chênh lệch sụt áp trên dây dẫn.

18 – 2 – 21
Hỏi: Căn cứ vào hình 18 – 2 – 21 (a) dùng vôn kế và ampe kế đo điện trở một chiều cuộn dây của môtơ điện (hoặc biến thế) được không?

Đáp: Không được. Trong cuộn dây môtơ điện hoặc biến thế có lõi sắt, là một điện cảm tương đối lớn. Khi công tắc từ tháng đến ngắt, điện cám luôn luôn muốn duy trì dòng điện vốn có của nó không thay đổi. Sau khi ngắt công tắc, dòng điện này chỉ có thể thông qua vôn kế mới tạo thành thông mạch, hơn nữa, lại lớn hơn trị số dòng điện làm việc bình thường của vôn kế rất nhiều, mặc dù dòng điện này sẽ nhanh chóng suy giám theo thời gian xuống đến 0, nhưng cũng đủ làm cháy hỏng vôn kế.
Trị số điện trở một chiều của cuộn dây môtơ điện hoặc biến thế điện tương đối nhỏ, gần bằng điện trở trong ampe kế, để giảm thiểu sái số đo do điện trở trong ampe kế, điện trở dây dẫn và điện trở tiếp xúc gây ra, cần đấu song song vôn kế vào hai đầu cuộn dây.
Vì thế, khi dùng ampe kế và vôn kế đo điện trở cuộn dây, nên áp dụng mạch điện hình (b), (c); trong hình (c) trước khi ngắt công tắc K1 phải ngắt K2; trong hình (b) diode D có tác dụng liên tục dòng điện.

18 – 2 – 22
Hỏi: Lần lượt dùng phương pháp ampe kế, vôn kế như thể hiện ở hình 18 -2 – 22 (a), (b) đo trị số điện trở phụ tải R hoặc công suất tiêu hao thì sai số đo cái nào nhỏ hơn?
Đáp: Do điện trở trong của ampe kế nói chung không thể làm được đến mức vô cùng nhỏ, điện trở trong của vôn kế không thể làm được vô cùng lớn, đối với R mà nói thì điện trở trong đó: trong hình (a), ampe kế có tác dụng phản áp; trong hình (b) vôn kế có tác dụng phân dòng, nên hai phương pháp này đều tồn tại sai số nhất định. Để cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của điện trở trong đồng hồ đối với độ chính xác đo, khi trị số điện trở phụ tải R tương đối lớn thì nên dùng phương pháp hình (a). Ngược lại, thì dùng phương pháp hình (b). Nhưng khi vôn kế sử dụng là vôn kế tĩnh điện hoặc vôn kế bóng điện tử, do điện trở trong rất lớn, tác dụng phân dòng đối với R không lớn, nên dùng mạch điện hình (b).

18 – 2 – 23
Hỏi: Khi áp dụng phương pháp vôn kế, ampe kế đo điện trở cùng một đầu nối của đường dây mắc trên không, tại sao có lúc đổi đầu cực dương, cực âm của nguồn điện một chiếu sẽ có được trị số điện trở khác nhau? (xem hình 8 – 2 – 23)?
Đáp: Đó là do đường dây mắc trên không nằm trong không khí ngoài trời lâu ngày, bị xâm thực bởi nắng, mưa, dẫn đến. đầu tiếp xúc dần dần bị oxy hóa ăn mòn, sẽ hình thành lớp màng mỏng oxyt đồng trên mặt tiếp xúc giữa các dây. Do màng mỏng oxyt đồng có đặc tính chính lưu dẫn điện một chiều, khi điện áp một chiều không cao tác dụng vào nó, điện trở chiều dương nhỏ, điện trở ngược chiều lớn. Khi đo, do điện áp ắc qui không thay đổi, cho
nên sau khi đổi đầu cực tính dương âm của ắc qui, chiều dòng điện thay đổi, dòng điện chạy qua sẽ không bằng nhau. Gặp phải trường hợp này nên đo lại nhiều lần, và nên lấy trị số điện trở tương đối lớn làm kết quả đo.

18 – 2 – 24
Hỏi: Dùng ampe kế và vôn kế đo điện trở có ba cách đấu dây (xem hình 18 – 2 – 24), chúng có gì khác nhau. Nên chọn thế nào?

Đáp: Cách đấu dây theo hình (a) thích hợp với đo điện trở có trị số điện trở tương đối lớn, vì sụt áp của vôn kế nhỏ hơn nhiều sụt áp của điện trở cần đo, nên số đọc của vôn kế gần bằng với sụt áp của điện trở. Cách đấu theo hình (b) thích hợp với đo điện trở nhỏ, vì dòng điện của vôn kế nhỏ hơn nhiễu dòng điện của điện trở, số đọc của ampe kế gần bằng dòng điện của điện trở. Nếu điện trở cần đo dưới 1Ω theo cách đấu dây hình (a), (b) do trị số điện trở tiếp xúc giữa dây dẫn với chỗ nối điện trở gần bằng trị số điện trở cần đo, như vậy trị số điện trở đo được bằng tổng của hai cái, sai số đo sẽ rất lớn, lúc này cần đấu dây theo hình (c), dòng điện đo thông qua đầu nối dòng điện chạy vào điện trở cần đo, sụt áp trên điện trở tiếp xúc sẽ không tính vào trong điện áp mà vôn kế đo được, còn trên điện trở tiếp xúc giữa vôn kế với điện trở cần đo chỉ có dòng điện của vôn kế chạy qua, sụt áp rất nhỏ, có thể bô qua ảnh hưởng đối với số đọc điện áp.

18 – 2 – 25
Hỏi: Liệu có thể dùng một vôn kế đã biết điện trở bên trong để đo điện trở?
Đáp: Có thể sử dụng một vôn kế đã biết điện trở trong để đo điện trở. Cách đấu dây của nó như thể hiện ở hình 18 – 2 – 25.
Khi K đóng vào 1 có thể được số đọc Ul của vôn kế, khi K đóng vào 2 có thể đọc được U2. Bởi vì U2=Ivrv =Ulrv/ (rx + rv). Thế là có thể được: rx = rv (U1/U2-1).

18 – 2 – 26
Hỏi: Không dùng đồng hồ đo nào khác, chi dùng một biến trở, làm sao đo được diện trở trong của mA kế?
Đáp: Có thể lợi dụng “phương pháp quay giảm nửa” để đo. Cách làm là: đấu nối tiếp biến trở với mA kế, trước tiên điều chính biến trở đến 0, cho một điện áp nào đó ngoài vào để ma kế quay. Sau đó giữ nguyên điện áp, tăng điện trở khiến độ quay lệch của mA kế giảm còn một nửa so với cũ. Lúc này, trị số điện trở của biến trở sẽ bằng điện trở bên trong mA kế.

18 – 2 – 27
Hỏi: Nơi đặt máy móc, đồng hồ chính xác để đo lường tại sao không sử dụng rèm cửa bằng nhựa hoặc nilon?
Đáp: Bởi vì rèm cửa bằng nhựa hoặc nilon dễ sinh tĩnh điện, từ đó gây nhiễu đối với việc đo dẫn đến sai số đo, cho nên nói chung không nên sử dụng.

https://dienhathe.com


Điện Hạ Thế


Hotline: 0907 764 966 (Zalo) - Ms Nhung

email: info@dienhathe.com

Website: www.dienhathe.org

Điện Hạ Thế.com phân phối các sản phẩm thiết bị Điện Công Nghiệp, Biến Tần, Khởi Động Mềm,Phụ kiện tủ điện, dây cáp điện, ATS-Bộ Chuyển Nguồn Tự Động,Điện Dân Dụng,Tụ Bù, cuộn kháng, bộ điều khiển và các loại thiết bị tự động.:

Download Catalog sản phẩm, bảng giá thiết bị Điện Công Nghiệp tại : http://dienhathe.info

Related Posts: