1500 Câu hỏi Nghành Điện | 18 – 3 Đồng hồ vạn năng

 

18 – 3 – 1
Hỏi: Tại sao trong đồng hồ vạn năng, vạch chia xoay chiều và một chiều khi ở cùng một tầm đo hầu như không trùng nhau, đặc biệt là khi vạch chia mức thấp thì chênh lệch càng lớn (xem hình 18 – 3 – l)?
Đáp: Trong đồng hồ vạn năng, điện xoay chiều là dựa vào bộ chỉnh lưu biến thành một chiều đưa vào đồng hồ đo. Bởi vì tính phi tuyến của đặc tính bộ chỉnh lưu (trong đồng hồ vạn năng nói chung sử dụng oxit đồng), điện trở của nó thay đổi theo điện áp đưa vào, khi điện áp thấp thì điện trở lớn, vì thế khi đo điện áp thấp, dòng điện chạy qua không hoàn toàn tỉ lệ thuận với trị số điện áp đưa vào, mà hơi nhỏ hơn trị số cần có. Trong phạm vi toàn bộ thang chia độ, số đọc của điện xoay chiều, một chiều chỗ đầu mút thang chia đã thiết kế rất trùng hợp, vạch chia độ xoay chiều các điểm khác đều tương đối nhỏ.

18 – 3 – 2
Hỏi: Nấc (thang) điện áp xoay chiều một số đồng hồ vạn năng sử dụng mạch điện chỉnh lưu như thể hiện ở hình 18 – 3 – 2. Tác dụng của diode D1, D2 là gì?
Đáp: Đầu của đồng hồ vạn năng này là kiểu điện từ, chỉ có dòng điện một chiều chạy qua mới làm nó quay. Để đo điện áp xoay chiều, phải chuyển nó thành điện áp một chiều. Trong hình, thể hiện dùng diode D1, D2 tạo thành mạch chỉnh lưu nửa sóng. Khi ở bán chu kỳ dương của điện áp xoay chiều cần đo, D1 thông mạch, đầu đồng hồ quay chiều dương. Khi ở bán chu kỳ âm, D2 thông mạch, dòng điện không chạy qua dầu đồng hồ. D1, D2 có tác dụng bảo vệ ngược chiều lẫn nhau, khiến hai bên đều không chịu điện áp ngược chiều cao. Ngoài ra D1, D2 còn có tác dụng rò thoát dòng điện ngược chiều, khiến các mạch điện. cần đo có nối tiếp tụ điện 0 vì nạp điện một chiều của tụ điện gây tắc nghẽn khi đo.

18 – 3 – 3
Hỏi: Hiển thị của đồng hồ vạn năng số cỡ nhỏ (D.M.M) có hai hình thức: hiển thị màng tinh thể lỏng và hiển thị bằng diode phát quang. Mỗi loại có ưu khuyết điểm gì?
Đáp: Hiển thị màng tinh thể lỏng (LCD) ít tiêu hao điện, một cục pin có thể sử dụng khoảng 1000 giờ nhưng góc nhìn hiển thị nhỏ, tốc độ hưởng ứng nhiệt độ thấp chậm. Hiển thị bằng diode phát quang (LED) tuy tiêu hao điện tương đối nhiều, nhưng hiển thị rõ ràng, tốc độ hưởng ứng nhanh. Do đó sử dụng hiển thị bằng LED tương đối nhiều.

18 – 3 – 4
Hỏi: Tại sao khi sử dụng đồng hồ vạn năng để đo điện trở, trước tiên phải dùng biến trở để điều chỉnh kim đến vị trí O?
Đáp: Đó là bởi vì nguồn điện của đồng hồ vạn năng, điện áp của pin không thể ổn định lâu, lợi dụng điện trở điều chỉnh duy trì điện áp của hai điểm a, b cố định (xem hình 18 – 3 – 4), sau đó căn cứ vào số đọc của đồng hồ (lợi dụng định luật ôm) là có thể được độ lớn chính xác của điện trở cần đo.

18 – 3 – 5
Hỏi: Khi dùng đồng hồ vạn năng đo điện áp xoay chiều hoặc một chiều, tại sao thường căn cứ vào trị số hơi lớn hơn lượng đo để chọn tầm đo?
Đáp: Đo như vậy có thể khiến kim đồng hồ quay lệch tương đối lớn, thông thường lấy lệch kim lớn hơn 2/3 trở lên toàn bộ chiều dài thang đo là lý tưởng nhất. Ví dụ, khi dùng đồng hồ vạn năng đo điện áp xoay chiều 220 vôn thì nên chọn thang đo 250 vôn, chứ không dùng thang đo 500 vôn. Bởi vì sai số tương đối của toàn thang đo giống nhau, nhưng sai số tuyệt đối đều khác nhau. Sử dụng thang đo 250 vôn có thể giảm sai số đo.

18 – 3 – 6
Hỏi: Khi dùng thang điện áp xoay chiều của đồng hồ vạn năng đo điện áp một chiều, trị số điện áp đo được sẽ lệch thấp hay lệch cao?
Đáp: Lệch cao. Bởi vì đầu đồng hồ vạn năng là kiểu điện từ. Kim quay lệch phản ánh trị số bình quân của điện áp, lại vì thang xoay chiều áp dụng mạch điện chỉnh lưu nửa sóng, cho nên trị số bình phân điện áp đầu ra của nổ chỉ là 45% trị số hữu hiệu của điện áp xoay chiều hình sin. Vì thế, số dọc hiển thị của đầu đồng hồ phải căn cứ vào tỉ lệ này để hiệu chỉnh thành trị số hữu hiệu sóng hình sin. Nếu số đọc của thang xoay chiều là 1 vôn thực tế chỉ tương đương 0.45 vôn điện áp một chiều ổn định, tức điện áp một chiều ổn định 1 vôn khi đo bằng thang xoay chiều của đồng hồ vạn năng sẽ được số đọc 2.2 vôn.

18 – 3 – 7
Hỏi: Dùng đồng hồ vạn năng đo điện áp một chiều 12 vôn, kết quả đo được bằng 0, đổi đầu bút, đo lại, phát hiện số đọc điện áp là 26.6 vôn. Trị số đo được đều không đúng. Nguyên nhân tại sao?
Đáp: Dứt khoát do nhầm lẫn lấy thang điện áp xoay chiều sử dụng làm thang điện áp một chiều. Khi dùng đồng hồ vạn năng đo điện áp xoay chiều, đấu dây bên trong như thể hiện ở hình 18 – 3 – 7. Nó là do hai diode D1 và D2 tạo thành hình thức chinh lưu nửa sóng. Bây giờ dùng để đo điện áp một chiều, khi bút (-) (màu đen) chạm vào cực dương điện áp một chiều thì dòng điện I1 như thể hiện bằng mũi tên nét liền trong hình, bị D1 phân mạch không chạy qua đầu đồng hồ, nên kết quả đo lần đầu bằng 0. Khi đổi đầu bút đồng hồ đo lại, dòng điện I2 như mũi tên nét đứt thể hiện, qua R, D2 và đầu đồng hồ M trở về đầu  .Bởi vì mạch chỉnh lưu nửa sóng này khi đo điện áp xoay chiều, dòng điện một chiều bình quân chạy qua đầu đồng hồ chỉ bằng 0.45 lần trị số hữu hiệu xoay chiều đầu vào, cho nên vạch chia đầu đồng hồ phải thêm lần, tức 2.22 lần. Dùng vạch chia đã mở rộng này để đo điện áp một chiều, kim đồng hồ sẽ chi ở chỗ 2.22 lần trị số thực tế cần đo, chả trách khi đo điện áp một chiều 12 vôn, kim đồng hồ chỉ ở 26.6 vôn.

18 – 3 – 8
Hỏi: Trong mạch điện ở hình 18 – 3 – 8, nguồn điện E là 20V, Ro (bao gồm điện trở trong nguồn điện) là 20kΩ điện trở phụ tải R là 20kΩ điện áp U hai đầu R phải là 10V. Nhưng khi dùng nấc 10V một chiều của đồng hồ vạn năng kiểu MF -14 để đo, số đọc chỉ có 5V. Tại sao?
Đáp: Điện trở trong RV của nấc một chiều 10V đồng hồ vạn năng MF – 14 tương đối thấp (10kΩ) khi đấu song song hai đầu R để đo thì sai số đo rất lớn. Bởi vì khi không đấu với đồng hồ vạn năng thì:
U = E – .
Sau khi đấu đồng hồ vạn năng vào mạch điện thì:
U’ = E – .
Cho nên khi đo điện áp một chiều điện trở trong tương đối cao thì nên chọn sử dụng đồng hồ điện có điện trở trong tương đối lớn để giảm sai số do điện trở trong của đồng hồ điện gây ra.

18 – 3 – 9
Hỏi: Vạch chia trên bề mặt của đồng hồ ôm (đồng hồ điện trở hoặc bộ phận đo điện trở của đồng hồ vạn năng) tại sao ngược với đồng hồ điện nói chung, trị số 0 ở tận cùng bên phải, còn tận cùng bên trái là ∞?
Đáp: Đồng hồ ôm gồm nguồn điện (thông thường là pin khô) nối tiếp với một biến trở và micronampe kế (hoặc milianlpe kế) tạo thành, rồi đấu với điện trở cần đo thành mạch lún. Giả thiết điện áp nguồn điện là U, điện trở trong ampe kế là Ri, điện trở điều chỉnh là Rr, điện trở cần đo là Rx, thì góc quay lệch của kim ampe kế:
 =A x i =
Trong công thức: A – Thông số đồng hồ
i – Dòng điện chạy qua đồng hồ
Khi Rx = 0, tức khi ngắn mạch bên ngoài, điều chỉnh Rr khiến sự quay lệch của kim đạt trị số lớn nhất, nên vạch chia đầu tận cùng bên phải là 0, trị số Rx càng lớn thì góc quay lệch càng nhỏ, khi Rx : ∞ thì  = 0, cho nên đầu tận cùng bên trái là ∞. Từ công thức có thể thấy, vạch chia của đồng hồ không đều, càng gần bên trái càng dày, gần như vạch chia của đường hyperbol.

18 – 3 – 10
Hỏi: Dùng hai tụ điện 20F, 50V nối tiếp để thay tụ điện. 10F, 100V (như hình 18 – 3 – 10) dùng thang 100V một chiều của đồng hồ vạn năng đấu vào hai đầu C1 để đo điện áp hai đầu C1. Vừa đấu vào, điện áp gần 50V, nhưng tiếp đó liền sụt xuống dần tới 0, nhưng sau một lúc lại đột ngột vọt lên gần 100V, qua một lúc thì đứt cầu chì. Tại sao?
Đáp: Cầu chì đứt, khẳng định do hai tụ điện bị đánh thủng, ngắn mạch gây ra. Quá trình của nó như sau: Do lượng điện dung của C1 và C2 bằng nhau, nên điện áp đầu của mỗi tụ phải là 50V, nên khi đồng hồ vạn năng vừa đấu vào C2, điện áp do được gần bằng điện áp đầu 50V của C1, Sau đó, do điện trở trong của đồng hồ vạn năng đấu song song với C1, điện áp ngu, ồn qua R nạp điện cho C2, điện áp đầu của C2 từ 50V bắt đầu tăng lên, cho đến khi gần bằng 100V, còn điện áp của C1 sụt tương ứng xuống gần bằng 0. Lúc này điện áp trên C2 vượt qua 2 lần chịu áp của nó, lập tức bị đánh thủng ngắn mạch. Do điện áp nguồn toàn bộ dồn lên C1 cũng sẽ vượt quá chịu áp của nó nên bị đánh thủng, kết quả gây ngắn mạch đầu ra, cháy cầu chì. Vì thế, phương pháp đo này không đúng.

18 – 3 – 11
Hỏi: Khi dùng thang điện trở R x 1 của đồng hồ vạn năng kiểu MF – 30 để đo biến trở nhạy nhiệt, trị số điện trở chuẩn là 68Ω, kim đồng hồ từ từ quay lệch sang phải, số đọc sau khi ổn định không đến 60Ω Tại sao?
Đáp: Đó là hiện tượng bình thường, không ngoài điện trở hoặc đồng hồ không chính xác gây nên. Bởi vì điện trở nhạy nhiệt là linh kiện hệ số nhiệt điện trở âm, tức khi nhiệt độ của biến trở tăng lên, trị số điện trở giảm. Thang do điện trở R x 1 của đồng hồ vạn năng MF – 30 thì điện trở trong chỉ có khoảng 20Ω. Sau khi đấu điện trở nhạy nhiệt 68Ω vào đồng hồ, sẽ có dòng điện gần 20mA chạy qua điện trở cần đo. Nếu công suất tiêu chuẩn của biến trở không lớn sẽ vì thế mà nóng lên. Nên trị số điện trở đo được sẽ nhỏ hơn trị số chuẩn.

18 – 3 – 12
Hỏi: Tại sao khi dùng thang ôm của đồng hồ vạn năng đo điện trở phải cắt nguồn điện của mạch điện cần đo?
Đáp: Nguyên lý hoạt động đo điện trở của thang ôm đồng hồ vạn năng xem hình 18 – 3 – 12. Trong mạch điện đo này, bản thân có nguồn điện, không cần bất cứ nguồn điện nào bên ngoài. Nếu tiến hành đo đối với điện trở có điện sẽ tương đương với tăng thêm một điện áp bên ngoài vào mạch đồng hồ. Như vậy không những khiến trị số do không chính xác mà còn rất có thể cháy đồng hồ. Cho nên khi dùng thang ôm đồng hồ vạn năng để đo điện trở trong các loại mạch điện, đầu tiên phải cắt nguồn điện của mạch điện cần đo nhằm bảo đảm độ chính xác của trị số điện trở đo được và an toàn của đồng hồ.

18 – 3 – 13
Hỏi: Khi sử dụng đồng hồ vạn năng đo điện trở tương đối lớn, tại sao hai tay không được tiếp xúc bộ phận dẫn điện của bút thử?
Đáp: Bởi vì cơ thể người có tính năng dẫn điện. Nếu khi đo một điện trở nào đó hai tay cùng lúc tiếp xúc bộ phận dẫn điện của hai bút thử thì trị số Ω đo được là trị số song song giữa điện trở cần đo với điện trở giữa hai tay người, sai lệch với trị số thực tế của điện trở cần đo. Hiện tượng này tương đối rõ rệt ở thang điện trở cao R x 100 trở lên. Cho nên, khi đo cần chú ý.

18 – 3 – 14
Hỏi: Tại sao không thể dùng đồng hồ ôm để đo thử cuộn dây của mA kế và A kế?
Đáp: Dòng điện cho phép chạy qua ma kế rất nhỏ, dòng điện cho phép chạy qua A kế càng nhỏ hơn, còn đồng hồ ôm nói chung ở nấc R x 1 có thể đưa ra dòng điện 50mA trở lên, lớn hơn rất nhiều dòng điện cho phép chạy qua ma kế và A kế, cho dù đồng hồ cần đo vốn vẫn tất, cũng có thể do dùng đồng hồ ôm để đo, gây cháy. Vì thế, không được dùng đồng hồ ôm để đo.

18 – 3 – 15
Hỏi: Có loại đồng hồ vạn năng đo tụ điện và đo điện áp xoay chiều trên cùng một nấc. Lúc này làm sao đo trị số tụ điện?
Đáp: Trước tiên để công tắc lựa chọn trên nấc này, rồi đấu một đầu của tụ điện vào một đầu đo, một đầu khác của tụ điện và một đầu đo khác cho vào điện áp đầy thang chia độ của nấc này, là có thể đọc được trị số tụ điện C cần đo trên vạch chia trị số tụ điện của đồng hồ (như thể hiện ở hình 18 – 3 – 15). Nhưng trong khi đo cần chú ý độ chịu áp của tụ điện xem có thể chịu được điện áp đầy thang chia độ không, nếu không thể chịu được thì phải đổi sang nấc điện áp nếu nhỏ hơn (phối hợp với chịu áp của tụ điện). Ngoài ra, nếu điện áp đưa vào không phải là điện áp đầy thang chia độ thì trị số đọc điện dung phải nhân với tỉ số giữa điện áp thực tế với điện áp đầy thang chia độ.

18 – 3 – 16
Hỏi: Làm sao dùng đồng hồ vạn năng để phán đoán tụ điện tốt, xấu?
Đáp: Điện trở cách điện cao là chỉ tiêu quan trọng của tụ điện tốt. Dùng đồng hồ vạn năng có thể kiểm tra ra điện trở cách điện cao hay thấp. Khi bút thử lần đầu tiên chạm vào hai cực của tụ điện, do tụ điện nạp điện, kim sẽ nhảy. Sau khi kéo bút thử ra, sau 5 giây lại chạm vào lần nữa, nếu kim không nhảy rõ rệt, chứng tỏ do điện trở cách điện cao, điện tích dư của tụ điện chỉ rò chút ít, loại tụ điện này tốt. Nếu kim vẫn nhảy, chứng tỏ điện nạp 5 giây trước đã rò hết, cách điện của tụ điện đã hỏng.

18 – 3 – 17
Hỏi: Khi dùng đồng hồ vạn năng đo mức điện âm tần, tại sao chỉ có khi điện trở phụ tải 600Ω mới có thể căn cứ vào vạch chia do trên mặt đồng hồ vạn năng để đọc trực tiếp?
Đáp: Bởi vì vạch chia đềxiben (dB) trên đồng hồ vạn năng được phân định dưới điều kiện tín hiệu âm tần hình sin và điện trở phụ tải là 600Ω, cho nên chỉ có khi đáp ứng điều kiện trên, mới có thể trực tiếp đọc theo vạch chia độ. Nếu khi điện trở phụ tải cần đo R không phải 600Ω thì không thể trực tiếp đọc được số dB trên đồng hồ vạn năng mà phải cộng thêm 10 log vào số đọc của đồng hồ vạn năng để tính đổi.

18 – 3 – 18
Hỏi: Tại sao khi lợi dụng đồng hồ vạn năng đo điện trở của máy chỉnh lưu bằng oxýt đồng, núm xoay để ở các nấc bội số khác nhau thì số đọc của nó khác nhau?
Đáp: Dùng đồng hồ vạn năng để đo điện trở, khi để núm xoay ở vị trí khác nhau, thì điện trở trong của nó khác nhau. Bội số càng nhỏ thì điện trở trong cũng càng nhỏ, lúc này dòng điện chạy qua sẽ càng lớn. Do oxyt đồng đều là linh kiện phi tuyến tính, khi dòng điện chạy qua nó thay đổi thì trị số điện trở phản ứng cũng khác nhau. Vì thế số đọc không giống nhau.

18 – 3 – 19
Hỏi: Tại sao khi dùng thang điện trở đồng hồ vạn năng đo điện trở chiều dương của diode bán dẫn, trị số điện trở đo được bằng thang trị số thấp thì nhỏ, còn trị số điện trở đo được bằng thang trị số cao thì lớn?
Đáp: Đặc tính vôn – ampe chiều dương của diode bán dẫn như thể hiện ở hình 18 – 3 – 19 khi dòng điện chiều dương chạy qua diode khác nhau thì điện trở chiều dương mà diode hiện ra không phải là số cố định. Còn điện trở trong của thang điện trở đồng hồ vạn năng khi thang đo khác nhau sẽ chênh lệch nhau rất lớn. Như đồng hồ vạn năng kiểu MF – 30, nấc R x 1 dòng điện đạt vài ngàn ma, nấc R x 10k, chỉ vài A (đều chi khi bút đồng hồ ngắn mạch). Do đó, diện trở chiều dương của diode đo được bằng đồng hồ vạn năng sẽ khác nhau rất lớn. Điện trở trong của nấc điện trở thấp rất nhỏ, dòng điện chạy qua diode lớn, trị số điện trở chiều dương của diode đo được sẽ nhỏ. Ngược lại, trị số điện trở chiều dương đo được sẽ lớn.

18 – 3 – 20
Hỏi: Tại sao khi sửa chữa đồng hồ vạn năng, điện trở trong của nó không thể trực tiếp dùng thang điện trở của đồng hồ vạn năng để đo, còn phán đoán cuộn dây đầu đồng hồ có thông hay không lại có thể dùng thang điện trở của đồng hồ vạn năng để đo?
Đáp: Cuộn dây đầu đồng hồ vạn năng được quấn bằng dây dẫn rất nhỏ, trị số dòng diện cho phép của nó chỉ ở cấp A, còn trị số dòng điện của nấc điện trở đồng hồ vạn năng là ma, cho nên nếu đo trực tiếp, thời gian hơi lâu có thể khiến cuộn dây quá tải gây cháy hỏng. Nhưng, tăng nhiệt độ làm cháy hỏng cuộn dây cần có thời gian nhất định, còn như để phân biệt cuộn dây đồng hồ có thông mạch hay không chỉ dùng nấc R x 1k của đồng hồ vạn năng chạm nhanh một cái, căn cứ vào kim đồng hồ có động đậy hay không để phán đoán, thời gian rất ngắn, sẽ không làm cuộn dây đầu đồng hồ quá tải.

18 – 4 Đồng hồ mê ga ôm

18 – 4 – 1
Hỏi: Tại sao phải căn cứ vào điện áp của thiết bị điện cao hay thấp để chọn đồng hồ mê ga ôm điện áp khác nhau để đo điện trở cách điện của nó?
Đáp: Nếu dùng đồng hồ mê ga ôm điện áp thấp để đo điện trở cách điện của thiết bị cao áp thì do cách điện tương đối dày, điện áp phân bố trên chiều dài đơn vị tương đối nhỏ, không thể hình thành cực hóa môi chất, tác dụng điện giải đối với hơi ẩm cũng yếu, số liệu đo được không thể phản ánh tình hình chân thực. Ngược lại dùng đồng hồ mê ga ôm cao áp để đo điện trở cách điện của thiết bị điện áp thấp thì rất dễ đánh thủng cách điện. Vì thế, khi đo điện trở cách điện của thiết bị điện, nói chung qui định dưới 1000V thì dùng đồng hồ MΩ 500V hoặc 1000V, trên 1000V thì dùng đồng hồ MΩ 1000V hoặc 2500V.

18 – 4 – 2
Hỏi: Trên đồng hồ mê ga ôm có 3 trụ đấu dây: một cái đấu “dây pha”, một cái đấu “dây đất” một cái nữa dùng làm gì?
Đáp: Dùng đấu nối dây chắn. Khi đầu đấu dây của vật cần đo thử, do bẩn, ẩm ướt sinh ra dòng điện rò bề mặt, đấu dây chắn vào có thể giảm sai số đo, đo được trị số điện trở cách điện chính xác.

18 – 4 – 3
Hỏi: Dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện, nếu đấu nhầm đầu tiếp đất E với đầu dây pha L, sẽ sinh ra hậu quả gì?
Đáp: Bộ phận nối tiếp với đấu dây pha của đồng hồ mê ga ôm đều có chắn tốt, nhằm phòng ngừa dòng điện rò của đồng hồ mê ga gây nên sai số đo. Còn đầu E ở vào điện thế đất, không xét tới chắn. Khi đo bình thường, dòng điện rò của đồng hồ sẽ không gây nên sai số, nhưng nếu đấu nhầm đầu E, L do E không có chắn, dòng điện chạy qua vật thử sẽ nhiều thêm dòng điện rò của đồng hồ mê ga ôm, nói chung điện trở cách điện đo được sẽ lệch thấp so với trị số thực tế. Cho nên không được đấu sai đầu E, L.

18 – 4 – 4
Hỏi: Khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện của cao áp đối với thấp áp của biến thế, tại sao phải đấu cực chắn của đồng hồ mê ga ôm với vỏ biến thế? Còn khi đo cao áp đối với đất hoặc thấp áp đối với đất có thể không cần cực che chắn?
Đáp: Khi đo điện trở cách điện của cao áp đối với thấp áp biến thế, dòng điện chạy qua giữa cuộn dây cao áp thấp áp của biến thế có hai bộ phận, một bộ phận là dòng điện chạy qua bên trong cách điện giữa cuộn dây cao áp, thấp áp .Dòng điện này phản ánh điện trở cách điện. Một bộ phận khác là dòng điện từ bề mặt ống lồng cao áp qua vỏ rồi đến ống lồng thấp áp, là dòng điện rò bề mặt. Nếu hai bộ phận dòng điện này đều chạy qua cuộn dây dòng điện của đồng hồ mê ga ôm thì điện trở cách điện đo được sẽ thấp hơn trị số thực. Nếu đấu điện cực chắn của đồng hồ mê ga ôm lên vỏ biến thế thì dòng điện rò bề mặt sẽ thông qua cực chắn của đồng hồ mê ga ôm để cấp điện, không qua cuộn dây dòng điện của đồng hồ mê ga ôm, sẽ có thể loại trừ ảnh hưởng của dòng điện rò bề mặt, đo được trị số thực.
Đo điện trở cách điện cao áp đối với đất, thấp áp đối với đất, chỉ cần đấu cuộn dây cần đo lên đầu “đường dây”, cuộn dây không cần đo đấu với vỏ rồi cùng đấu với đầu “đất” của đồng hồ mê ga ôm. Lúc này, dòng điện rò bề mặt và dòng điện rò của cuộn dây không cần đo đều không đi qua cuộn dây đồng hồ mê ga ôm, vì thế có thể đo được trị số thực của điện trở cách điện. Vì thế tiêu chuẩn Bộ cơ khí “Phương pháp thử nghiệm biến thế điện” qui định dùng phương pháp này để đo.

18 – 4 – 5
Hỏi: Khi dùng đồng hồ mê ga ôm làm thí nghiệm cách điện, tại sao phải dùng dây đồng hồ megger có dây chắn?
Đáp: Khi đo điện trở cách điện, dòng điện rò bề mặt của vật cần thử có thể dùng vòng chắn bằng kim loại bọc bề mặt vật thể và dẫn vòng này đến đầu che bảo vệ của đồng hồ mê ga ôm. Như vậy, rò bề mặt sẽ không thông qua đồng hồ mê ga ôm, nhưng lúc này số đọc của đồng hồ mê ga ôm vẫn chịu ảnh hưởng của rò bên trong đồng hồ. Nếu dùng dây chắn, đem một đầu đấu vào đầu che bảo vệ, dẫn dòng điện chạy từ đất đến đầu đấu với dây dẫn của đồng hồ mê ga ôm thoát đi, khiến nó không chạy qua trong đồng hồ, như vậy điện trở cách diện đo được mới thật sự là điện trở của bản thân môi chất.

18 – 4 – 6
Hỏi: Khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện của thiết bị điện, tại sao dây đo không được xoắn quấn vào nhau?
Đáp: Nếu hai sợi dây đo xoắn quấn vào nhau, khi cách điện của dây dẫn không tốt sẽ tương đương với đấu song song một điện trở thấp (cách điện) vào thiết bị điện cần đo, khiến đo không chính xác. Đồng thời, còn làm thay đổi điện dung của mạch điện cần đo, sẽ không chính xác khi thử nghiệm.

18 – 4 – 7
Hỏi: Tại sao đồng hồ mê ga ôm (đồng hồ megger) áp dụng kết cấu đồng hồ tỉ suất?
Đáp: Đặc điểm chủ yếu của đồng hồ tỉ suất là bộ phận hoạt động của đồng hồ bố trí hai cuộn dây (cuộn dây mô men quay, cuộn dây phản tác dụng) mà không có dây lò xo cân bằng. Mô men phản tác dụng do cuộn dây phản tác dụng sinh ra. Do đó, khi không thông điện, bộ phận hoạt động ở vào trạng thái cân bằng, sau khi thông điện, góc quay lệch của bộ phận hoạt động của nó phụ thuộc vào tỉ suất dòng điện của hai cuộn dây hoạt động, cho nên gọi là đồng hồ tỉ suất. Khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện, yêu cầu trị số đo không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của điện áp máy phát điện quay tay, dùng đồng hồ kiểu tỉ suất có thể thỏa mãn yêu cầu này.

18 – 4 – 8
Hỏi: Số phiến cổ chỉnh lưu của máy phát điện tay quay trong đồng hồ mê ga ôm nhiều tốt hay ít tốt?
Đáp: Để đo chính xác trị số điện trở cách điện, yêu cầu điện áp một chiều do đồng hồ mê ga ôm phát ra phải gần như ổn định, dao động càng nhỏ càng tốt. Nếu điện áp có dao động, thì có thể coi như trong điện áp tồn tại thành phần xoay chiều. Thành phần xoay chiều điện áp này có thể thông qua tụ điện sinh ra dòng điện rò phụ, khiến trị số điện trở cách điện đo được lệch thấp. Số phiến chỉnh lưu của đồng hồ mê ga ôm càng nhiều thì dao động điện áp sinh ra càng nhỏ, ngược lại thì dao động điện áp lớn. Cho nên, số phiến của cổ chỉnh lưu máy phát điện nhiều một chút thì tốt.

18 – 4 – 9
Hỏi: Có một số đồng hồ mê ga ôm cao áp (như điện áp 2500 vôn, giới hạn đo 10000 triệu ôm) tại sao trên thủy tinh vỏ đồng hồ có đoạn dây dẫn bằng đồng?
Đáp: Tác dụng của sợi dây dẫn bằng đồng này là loại trừ sức hút của điện tích tĩnh đối với kim đồng hồ, khi sửa chữa cần đặc biệt lưu ý, không được tùy ý tháo bỏ.

18 – 4 – 10
Hỏi: Đồng hồ mê ga ôm 1000 vôn, khi lắc, lấy hai tay nắm chặt hai đầu dây ra của nó, tại sao chỉ cảm giác tê tay mà không nguy hiểm đến tính mạng?
Đáp: Điện áp định mức của máy phát điện trong đồng hồ mê ga ôm tuy rất cao, nhưng trong mạch đầu ra của nó đấu nối tiếp trị số điện trở trong rất lớn, lớn gấp nhiều lần điện trở cơ thể người. Vì thế khi nắm chặt hai đầu dây ra của hòm quay, dòng điện chạy qua cơ thể bị hạn chế đến trị số rất nhỏ, cho nên chỉ cảm giác tê tay mà không nguy hiểm đến tính mạng. Còn nguồn điện 220 vôn nói chung, điện trở trong rất nhỏ, vì thế khi tiếp xúc với người sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

18 – 4 – 11
Hỏi: Khi đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện của tụ điện mạch cao áp, sau khi đo xong, tại sao đồng hồ mê ga ôm không được đột ngột ngắt mà phải từ từ giảm tốc độ, chờ khi tháo dây đo của đồng hồ mê ga ôm ra khỏi tụ điện mới ngắt?
Đáp: Trong quá trình đo, tụ điện dần dần nạp điện, mà khi sắp đo xong, tụ điện đã tích trữ đủ điện năng, nếu đồng hồ mê ga ôm ngắt ở đây, thì tụ điện tất phải phóng điện qua đồng hồ mê ga ôm, có khả năng cháy hỏng đồng hồ.

18 – 4 – 12
Hỏi: Làm sao dùng đồng hồ mê ga ôm để phán đoán tụ điện tốt, xấu?
Đáp: Dùng đồng hồ mê ga ôm quay đo điện trở cách điện của tụ điện (nếu điện áp tiêu chuẩn của đồng hồ mê ga ôm sử dụng cao hơn điện áp thử nghiệm một chiều của tụ cần đo thì phải giảm tương ứng tốc độ quay), sau đổ nhanh chóng cắt mạch quay đo, không cho điện tích dư thừa rò qua đồng hồ mê ga ôm, rồi mới để tụ điện ngắn mạch phóng điện. Lúc này có thể xảy ra ba trường hợp:
(1) số đọc của đồng hồ mê ga ôm từ 0 bắt đầu tăng dần lên, khi ngắn mạch có tia lửa phóng điện. Điều này chứng tỏ cách điện và tính năng tích điện của tụ điện tốt.
(2) Số đọc của đồng hồ mê ga ôm ngừng ở chỗ vị trí 0, thể hiện cách điện của tụ điện đã bị đánh thủng.
(3) Đồng hồ mê ga ôm có số đọc, khi ngắn mạch không có tia lửa, thể hiện đứt dây nối giữa trụ đấu dây với bản cực. Hai trường hợp sau thể hiện tụ điện đã hỏng, không thể sử dụng.

18 – 4 – 13
Hỏi: Dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện của thiết bị điện, trong hai cách đấu dây ở hình 18 – 4 – 13 (a) và (b) trị số đo của cách nào chính xác?
Đáp: Mục đích đo điện trở cách điện của thiết bị điện là nhằm phán đoán cách điện bên trong chất cách điện của thiết bị tốt hay xấu. Vì thế, phải cố gắng loại trừ ảnh hưởng của rò bề mặt thiết bị đối với đồng hồ mê ga ôm.
Hình (a) nối vòng báo vệ G của đồng hồ mê ga ôm với ống sứ, như vậy dòng điện rô do bề mặt ống sứ bị bẩn hoặc ẩm ướt gây nên sẽ không chạy qua cuộn dây bên trong đồng hồ mê ga ôm loại trừ được ảnh hưởng của rò bề mặt đối với đồng hồ mê ga ôm. Vì thế cách đấu dây của hình (a) hợp lý hơn hình (b), điện trở cách điện mà cái trước đo được cũng chính xác hơn.

18 – 4 – 14
Hỏi: Tại sao sau khi đồng hồ mê ga ôm ngừng, kim thường vượt quá vô cùng lớn?
Đáp: Khi đo điện trở cách điện, vật bị đo ở vào trạng thái nạp điện. Sau khi đồng hồ mê ga ôm ngừng, vật bị đo ở vào trạng thái phóng điện, dòng điện chạy qua kim đồng hồ ngược với trước, kim sẽ quay lệch về phía vô cùng lớn. Đối với thiết bị điện áp càng cao, dung lượng càng lớn thì thường quay lệch quá mức, vì thế khi đo xong phải một mặt hạ thấp tốc độ quay, mặt khác tháo dây đầu tiếp đất, khiến kim không quay lệch quá mức gây hỏng.

18 – 4 – 15
Hỏi: Tại sao khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện một số thiết bị điện nào đó (như biến thế, máy hỗ cảm v.v…) sẽ phát hiện dòng điện được hình thành bởi ion sau khi tốc độ quay đã ổn định, nếu tiếp tục quay thì số chỉ thị sẽ tăng lên rõ rệt?
Đáp: Vì dưới tác dụng của điện áp bên ngoài, chất điện môi, ngoài dòng điện được hình thành bởi ion ràng buộc rất yếu và một ít ion tự do ra, sự chuyển động của đôi cực bên trong nó, sự dịch chuyển có tính đàn hồi của ion ràng buộc tương đối mạnh và sự dịch chuyển của điện tích ràng buộc cũng hình thành dòng điện. Như vậy trị số điện trở cách điện sẽ tương đối thấp. Sau một khoảng thời gian, khi sự chuyển động của đôi cực, sự dịch chuyển của điện tích ràng buộc đã đạt được cân bằng với điện trường bên ngoài, sẽ ngắt. Lúc này, bên trong môi chất sẽ chỉ có dòng điện truyền dẫn chạy qua, cho nên trị số điện trở cách điện sẽ tăng lên rõ rệt.
Nói chung, khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo thiết bị điện nào đó đều phải yêu cầu tiến hành đo một phút hoặc đo cho đến khi trị số chỉ thị không còn tăng lên rõ nữa.

18 – 4 – 16
Hỏi: Khi dùng đồng hồ mê ga ôm kiểm tra cách điện của tụ điện, sau khi quay, phát hiện kim quay ngược. Đó là nguyên nhân gì?
Đáp: Đồng hồ mê ga ôm sau khi quay, đưa ra điện áp một chiều khiến tụ điện nạp điện. Sau khi quay xong, tụ điện nạp điện cho đồng hồ mê ga ôm, chiều của dòng điện này ngược với chiều của dòng điện đầu ra đồng hồ mê ga ôm, cho nên làm cho kim quay lệch ngược chiều.

18 – 4 – 17
Hỏi: Khi dùng đồng hồ mê ga ôm không áp dụng biện pháp chắn bề mặt để quay đo điện trở cách điện, trong quá trình quay tại sao không thể dùng vải hoặc tay để lau kính bề mặt?
Đáp: Nếu dùng vải hoặc tay để lau kính bề mặt sẽ ma sát sinh điện tạo ra điện tích tĩnh, ánh hường đến quay lệch của kim, khiến kết quả đo không chính xác, mà ảnh hưởng của điện tích tĩnh đối với kim còn phụ thuộc vào vị trí của kim, vì thế dùng tay hoặc vải lau kính mặt đồng hồ mê ga ôm không áp dụng biện pháp che chắn sẽ có kết quả đo phân tán rất lớn.

18 – 4 – 18
Hỏi: Tại sao khi dùng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện các vật thử nghiệm có tính điện dung như tụ điện, cáp điện lực v.v…, kim đồng hồ sẽ dao động qua lại? Nên giải quyết thế nào?
Đáp: Đồng hồ mê ga ôm do máy phát điện một chiều quay tay và tỉ suất kế kiểu điện từ tạo thành. Khi đo, điện áp đầu ra sẽ thay đổi theo sự thay đổi tốc độ quay. Sự biến động nhỏ của điện áp đầu ra, ảnh hưởng không lớn đến vật thử nghiệm tính điện dung, khi tốc độ quay cao, điện áp đầu ra cũng cao, điện áp này nạp điện cho vật thử nghiệm cần đo khi tốc độ quay thấp, vật thử nghiệm cần đo phóng diện qua đầu đồng hồ. Như vậy, dẫn đến lúm đồng hồ dao động, ảnh hưởng số đọc.
Biện pháp giải quyết như thể hiện ở hình 18 – 4 – 18, đấu nối tiếp diode chinh lưu cao áp 2DL vào giữa “đầu đường dây” với vật thể cần đo của đồng hồ mê ga ôm, dùng để ngăn chặn sự phóng điện của vật thể đối với đồng hồ mê ga ôm, sẽ có thể loại trừ dao động của kim đồng hồ, lại không ảnh hưởng đến độ chính xác đo.

18 – 4 – 19
Hỏi: Khi sử dụng đồng hồ mê ga ôm đo điện trở cách điện của đường dây tải điện, cố khi số đọc bằng 0, có phải nhất định có sự cố?
Đáp: Số đọc bằng 0 chưa chắc mạch điện có sự cố. Nguyên nhân có thể của nó là:
(1) Đường dây tải điện ở ngoài trời mưa mù, vỏ sứ ẩm ướt, rò điện tương đối lớn.
(2) Đường dây tải điện dài, vỏ sứ nhiều, do các vỏ sứ dính bụi đất nên trị số rò điện tích tụ lại sẽ lớn.
(3) Đường dây tải điện dài, khi đo phải qua thời gian nhất định để nạp điện, trước khi chưa nạp điện, số đọc của nó bằng 0, nếu khi quay đồng hồ thời gian kéo dài trên 3 phút tức sẽ có hiển thị.
(4) Số đọc của đồng hồ mê ga ôm là triệu ôm, trị số nhỏ đọc không ra.

18 – 4 – 20
Hỏi: Khi độ ẩm tương đối lớn, điện trở cách điện của biến thế đo được bằng đồng hồ mê ga ôm tương đối thấp, nếu đấu đầu chắn của đồng hồ mê ga ôm vào giữa ống lồng (như hình 18 – 4 – 20) tại sao điện trở cách điện của nó lại tăng lên?
Đáp: Khi độ ẩm môi trường chung quanh tương đối lớn, trên ống lồng dây ra của két dầu biến thế dính những hạt nước nhỏ li ti hoặc lớp màng nước mỏng, làm tăng rõ rệt sự dẫn điện bề mặt ống lồng, mà điện trở cách điện đo được bằng đồng hồ mê ga ôm là tổng hợp của điện trở thể tích và điện trở bề mặt, sự dẫn điện bề mặt ống lồng tăng lên, khiến điện trở cách điện đo được giảm xuống, nhưng không thể phản ánh trong biến thế có khiếm khuyết.
Đấu đầu chắn của đồng hồ mê ga ôm vào giữa ống lồng thì dòng điện dẫn điện của bề mặt ống lồng sẽ không chạy qua cuộn dây dòng điện của đồng hồ mê ga ôm mà chạy qua đầu chắn rồi tiếp đất, cái mà đồng hồ phản ánh là điện trở thể tích, loại trừ ảnh hưởng dẫn điện bề mặt khi độ ẩm tương đối lớn, nên điện trở cách điện tăng lên.

https://dienhathe.com


Điện Hạ Thế


Hotline: 0907 764 966 (Zalo) - Ms Nhung

email: info@dienhathe.com

Website: www.dienhathe.org

Điện Hạ Thế.com phân phối các sản phẩm thiết bị Điện Công Nghiệp, Biến Tần, Khởi Động Mềm,Phụ kiện tủ điện, dây cáp điện, ATS-Bộ Chuyển Nguồn Tự Động,Điện Dân Dụng,Tụ Bù, cuộn kháng, bộ điều khiển và các loại thiết bị tự động.:

Download Catalog sản phẩm, bảng giá thiết bị Điện Công Nghiệp tại : http://dienhathe.info

Related Posts:

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 14 – 4 Vận hành ác qui

  14 – 4 – 1 Hỏi: Tại sao trong...

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 10 – 2 Tiếp đất và tiếp “không”

10 – 2 – 1Hỏi: Tại sao thiết bị điện...