1500 Câu hỏi Nghành Điện | 4 – 4 Đo thử máy biến áp

4 – 4 – 1

Hỏi: Tại sao thử không tải biến áp có thể đo ra được tổn hao trên sắt; còn thử ngắn mạch thì có thể đo được tổn hao trên đồng?

Đáp: Tổn hao trên sắt của biến áp bao gồm tổn hao dòng xoáy và tổn hao từ trễ, khi tần số của nguồn điện cố định, sẽ quyết định độ lớn của cường độ cảm ứng từ trong lõi sắt, tổn hao trên đồng của biến áp thì chủ yếu do độ lớn của dòng điện trong cuộn dây thứ cấp quyết định.

Khi thử không tải, dòng điện bên thứ cấp bằng 0, dòng điện không tải bên sơ cấp rất nhỏ thì tổn hao trên đồng có thể bỏ qua không tính. Còn điện áp đưa vào bên sơ cấp là điện áp định mức, cường độ cảm ứng từ trong lõi sắt là trị số bình thường khi hoạt động, cho nên công suất đầu vào cơ bản tiêu hao ở tổn hao trên sắt. Khi thí nghiệm ngắn mạch, trong cuộn dây bên thứ cấp đều là dòng điện định mức, còn điện áp nguồn điện bên sơ cấp tương đối thấp. Cường độ cám ứng từ trong lõi sắt tương đối nhỏ, tổn hao trên sắt cũng có thể bỏ qua, cho nên công suất đầu vào cơ bản tiêu hao ở trên đồng.

4 – 4 – 2

Hỏi: Khi đo tỉ số biến áp của máy biến áp động lực đấu D/Y, khi đấu nguồn điện xoay chiều một pha vào đầu bên D, tại sao điện áp đo được trên ba đầu bên Y có trị số khác nhau, có lúc còn đo được trị số 0?

Đáp: Khi đấu điện áp nguồn một pha vào hai pha bất kỳ của cách đầu D, tương đương với đem điện áp xoay chiều đặt lên cuộn dây của một pha nào đó và cuộn dây của hai pha mắc nối tiếp. Giả thiết đem điện áp một pha đặt lên cuộn dây bên trái hoặc bên phải của biến áp ba pha. Do trong tình hình này, ba pha của biến áp có mạch từ dài ngắn khác nhau. Trụ lõi sắt giữa có mạch từ tương đối ngắn so với lõi sắt hai pha còn lại. Cho nên trụ lõi sắt giữa có từ thông tương đối nhiều. Do đó nhóm cuộn dây pha giữa có điện thế cảm ứng tương đối lớn so với pha còn lại. Khi đo bên Y sẽ được ba trị số khác nhau. Khi đem điện áp một pha đặt lên cuộn dây trụ lõi sắt giữa, do có từ thông đối xứng, vì thế trong trụ lõi sắt hai bên có từ thông bằng nhau, cuộn dây trên hai trụ lõi sắt cảm ứng điện thế bằng nhau. Do cuộn dây của hai pha cách đầu Y là mắc nối tiếp ngược chiều, cho nên lúc này khi đo điện áp của hai pha sẽ được trị số 0.

4 – 4 – 3

Hỏi: Khi ở hiện trường dùng cầu dao xung kích nguồn điện của hệ thống để tiến hành thí nghiệm không tải biến áp, tại sao cuộn dây dòng điện của ampe kế và oát kế dùng để đo đạc đều phải đấu ngắn mạch?

Đáp: Bởi vì sử dụng cầu dao xung kích nguồn điện của hệ thống, lúc này dòng điện cầu dao xung kích hình thành trong quá trình quá độ tức thì, dòng điện cao gấp 4 ~ 7 lần dòng điện định mức. Độ lớn của nó thay đổi theo vị trí pha của nguồn điện khoảnh khắc đóng cầu dao và suy giảm theo thông số thời gian To = L/r. Vì thế khi thí nghiệm, phải đấu ngắn mạch cuộn dây dòng điện của ampe kế và oát kế nhằm tránh làm cháy hỏng ampe kế và oát kế hoặc chạm gãy, cong kim.

4 – 4 – 4

Hỏi: Khi thí nghiệm chịu áp với tần số quốc tế, lấy số đọc được ở vôn kế bên điện áp thấp của biến áp thử nghiệm để đánh giá điện áp thí nghiệm, phải chăng là lớn hơn?

Đáp: Chưa chắc. Dùng phương pháp này để đánh giá điện áp thí nghiệm chỉ khi trở kháng của biến áp thí nghiệm tương đối nhỏ mà trở kháng phụ tải tương đối lớn mới tương đối chính xác. Nếu không kết quả đo được vừa có khả năng lớn hơn hoặc cũng có khả năng nhỏ hơn. Khi trong mạch thí nghiệm có tính chất cảm kháng, bên cao áp có sụt áp thì số đọc của vôn kế bên thấp áp sẽ lớn hơn, còn khi trong mạng thí nghiệm có tính chất dung kháng, bên cao áp có tăng áp thì số đọc của vôn kế bên thấp áp sẽ nhỏ hơn. Ngoài ra, nếu khi thiết bị điện bị đo có rò điện tương đối lớn thì dòng điện phụ tải của biến áp thí nghiệm tăng lên thì tình hình trên mới tương đối rõ.

4 – 4 – 5

Hỏi: Tại sao khi tiến hành thí nghiệm chịu áp xoay chiều đối với biến thế 110kV trở lên phải sau khi gia nhiệt (60 ~ 70oC) rồi mới tiến hành?

Đáp: Do khi đổ dầu biến áp vào sẽ sinh ra một số bọt, các bọt khí này có thể bám trên cuộn dây, cho dù biến áp tốt cũng dễ dẫn đến sự cố phóng điện. Còn dưới trạng thái gia nhiệt, không những bọt khí sẽ bị khử sạch, đồng thời tương đối gần với tình trạng vận hành thực tế của biến thế, như vậy càng bảo đảm chất lượng thí nghiệm.

4 – 4 – 6

Hỏi: Khi dùng mạch điện hình 4 – 4 – 6 (a) để làm thí nghiệm không tải của biến áp và dùng mạch điện 4 – 4 – 6 (b) làm thí nghiệm ngắn mạch của biến áp, tại sao vị trí của ampe kế và vôn kế khác nhau?

Đáp: Bởi vì, khi dùng mạch điện hình (a) để làm thí nghiệm không tải biến áp thì dòng điện không tải tương đối nhỏ, sụt áp trên ampe kế rất nhỏ, cho nên sai số đo của vôn kế và oát kế tương đối nhỏ. Ngược lại, nếu đảo vôn kế và ampe kế thì do bên thứ cấp biến áp hở mạch, trở kháng rất lớn, tiến hành đo so sánh thì trở kháng của vôn kế tỏ ra không lớn, tác dụng phân dòng của nó tương đối rõ, vì thế sai số đo của ampe kế và oát kế tương đối lớn. Cùng lẽ đó, khi dùng mạch điện hình (b) làm thí nghiệm ngắn mạch, do phía thứ cấp của biến áp ngắn mạch, trở kháng rất nhỏ, trở kháng đầu vào của vôn kế tỏ ra tương đối lớn, tác dụng phân dòng không rõ rệt, vì thế sai số đo của ampe kế và oát kế tương đối nhỏ. Ngược lại, nếu đem vôn kế và ampe kế đảo trước sau thì do khi thí nghiệm ngắn mạch, dòng điện đạt đến trị số định mức của biến áp, vì thế sụt áp trên ampe kế rất lớn, sai số đo của vôn kế và oát kế sẽ tương đối lớn.

4 – 4 – 7

Hỏi: Khi tiến hành thí nghiệm chịu áp của thiết bị điện trong nguồn điện hệ bốn dây pha, biến áp thí nghiệm đấu vào điện áp pha hay điện áp dây?

Đáp: Sự đánh thủng thiết bị điện trong thí nghiệm chịu áp có liên quan tới trị số biên độ sóng điện áp. Trong điện áp pha chứa điện ápsóng hài thứ ba; sóng điện áp thể hiện không phải hình sin, khiến cách điện dễ bị đánh thủng. Trong điện áp dây, do sóng hài thứ ba của hai pha triệt tiêu nhau, sóng điện áp thể hiện là hình sin, bên cao áp cũng không có hiện tượng biên độ dao động của sóng điện áp tầng cao. Vì thế, khi làm thí nghiệm chịu áp nên sử dụng điện áp dây.

4 – 4 – 8

Hỏi: Khi tiến hành thí nghiệm chịu áp đối với biến áp cao áp dung lượng lớn, tại sao phải dùng khe hở hình cầu để đo điện áp thí nghiệm mà không dùng vôn kế?

Đáp: Khi điện áp thí nghiệm được đo từ bên phía thấp áp rồi dùng tỉ số biến áp để tính đổi ra, do tác dụng của dòng điện dung của biến áp thí nghiệm sẽ gây sụt áp trong biến thế thí nghiệm, khiến điện áp mà cuộn dây biến áp bị thí nghiệm nhận được cao hơn trị số tính đổi ra. Đối với biến áp cao áp dung lượng lớn, ảnh hưởng này sẽ gây ra sai số rất lớn, cho nên phải trực tiếp đo điện áp bên cao áp. Nhưng, thông thường phạm vi điện áp đo của các loại đồng hồ dùng bộ hỗ cảm không cao, mà điện áp được đo bằng đồng hồ kiểu điện từ, chỉ là trị số hữu hiệu của điện áp. Đồng thời, do hình sóng bên cao áp thay đổi cũng sẽ gây ra sai số. Cho nên khi tiến hành thí nghiệm chịu áp với biến áp cao áp dung lượng lớn nên sử dụng khe hở hình cầu để đo trị số lớn nhất của điện áp thí nghiệm.

4 – 4 – 9

Hỏi: Tiến hành thí nghiệm chịu áp tần số chung của biến áp dung lượng lớn, trước khi thí nghiệm, phía cao áp đã hiệu chỉnh khe hở phóng điện quả cầu đồng. Nhưng trong thí nghiệm thường thường lên chưa tới điện áp thí nghiệm quả cầu đồng

đã bắt đầu phóng điện, ngừng lại, lấy biến áp thí nghiệm ra, kiểm tra lại điện áp phóng điện của quả cầu đồng, thấy bằng với trị số hiệu chỉnh ban đầu. Tại sao?

Đáp: Đó là hiện tượng quả cầu đồng phóng điện sớm trong thí nghiệm chịu áp tần số làm việc. Do trong mạch cao áp của biến áp thí nghiệm, tồn tại dung kháng của vật thí nghiệm, gây nên tỉ số biến áp của biến áp thí nghiệm tăng theo khi điện áp tăng cao. Vì thế, lúc này số đọc của vôn kế không thể hiện được điện áp lớn nhất thật sự trong mạch cao áp. Trị số lớn nhất của điện áp thật sự được thể hiện trong việc đánh thủng khe hở quả cầu đồng. Vì thế, phải tuyệt đối tin tưởng khe hở quả cầu đồng, không được để số đo của vôn kế mà làm cho vật thí nghiệm quá áp.

4 – 4 – 10

Hỏi: Trong đường dây siêu cao áp, tại sao đo điện áp đều dùng bộ hỗ cảm điện áp kiểu xuyên cấp?

Đáp: Trọng lượng của bộ hỗ cảm điện áp gần như tỉ lệ thuận với bình phương điện áp, bộ hỗ cảm trong đường dây siêu cao áp ắt phải thật lớn. Để tiết kiệm vật liệu kim loại, chúng ta thường dùng một số bộ hỗ cảm có cấp điện áp nhỏ nối thành kiểu xuyên cấp để tiết kiệm vật liệu, giảm trọng lượng. Như trong mạch điện 220kV dùng bốn bộ hỗ cảm điện áp 55kV, tổng trọng lượng của chúng bằng khoảng một phần tư trọng lượng của bộ hỗ cảm 220kV.

4 – 4 – 11

Hỏi: Biến áp dung lượng lớn tiến hành thí nghiệm chịu áp tần số làm việc xoay chiều, khi biến áp bị đánh thủng, chỉ báo của ampe kế nói chung là tăng lên. Nhưng tại sao có lúc lại không thay đổi, thậm chí còn giảm xuống?

Đáp: Mạch điện đẳng trị thí nghiệm chịu áp tần số làm việc xoay chiều của biến áp như thể hiện ở hình 4 – 4 – 11. Trong hình, XL là điện kháng của biến áp thí nghiệm; XC là dung kháng của biến áp thí nghiệm. Trong tình hình chung, vì XC >> XL, tức XC – XL (điện kháng mạch điện trước khi đánh thủng) >> XL (điện kháng mạch điện sau khi đánh thủng), cho nên tổng điện kháng của mạch điện sau khi đánh thủng giảm nhỏ, chỉ báo của ampe kế tăng lên. Khi XC = 2XL , tức XC – XL = XL thì do tổng trở kháng của mạch điện trước và sau khi bị đánh thủng không đổi, cho nên chi báo của ampe kế không thay đổi. Khi XCL , tức khi XC – XLL thì tổng điện kháng của mạch điện sau khi đánh thủng tăng lên, cho nên chỉ báo của ampe kế giảm xuống.

Qua đó có thể thấy, khi thực tế thí nghiệm sự thay đổi số chỉ báo của ampe kế sau khi biến áp thí nghiệm bị đánh thủng chủ yếu quyết định bởi dung lượng của biến áp thí nghiệm và biến áp bị thí nghiệm.

4 – 4 – 12

Hỏi: Biến áp sau khi đổ dầu có thể tiến hành thí nghiệm chịu áp hay không?

Đáp: Biến áp sau khi đổ dầu, không được tiến hành thí nghiệm chịu áp ngay. Vì khi đổ dầu vào, bọt khí lẫn trong dầu sẽ bám vào cách điện của cuộn dây, cường độ chịu áp của không khí thấp hơn nhiều so với cường độ chịu áp của dầu biến thế (chỉ bằng 1/20 ~ 1/15) còn điện áp thí nghiệm chịu áp xoay chiều của biến áp cao hơn nhiều so với điện áp định mức của nó. Sau khi có bọt khí bám vào cách điện của cuộn dây rất có thể cùng gây hiện tượng phóng điện trong biến thế, thậm chí đánh thủng cách điện tốt. Cho nên biến thế sau khi bơm dầu, phải chờ hơn 10 giờ để bọt khí bị đẩy hết ra khỏi bộ hô hấp mới tiến hành thí nghiệm chịu áp.

4 – 4 – 13

Hỏi: Tại sao biến áp động lực phải tiến hành thử nghiệm chịu áp cảm ứng?

Đáp: Cách điện của biến áp chia ra cách điện chính và cách điện phụ. Cách điện chính là cách điện giữa cuộn dây của hai cấp điện áp và cách điện đối với đất. Cách điện phụ là cách điện giữa các vòng, giữa các lớp, giữa các đoạn của bản thân cuộn dây cùng cấp điện áp. Khi thử nghiệm, cao áp bên ngoài đặt vào, thì điện áp thử nghiệm mà các vị trí của cuộn dây bị thí nghiệm chịu đối với đất đều bằng nhau, như vậy cách điện chính đã được kiểm tra, nhưng cách điện phụ vẫn chưa được thử. Thử nghiệm chịu áp cảm ứng là đặt điện áp gấp hai lần hoặc trên hai lần điện áp kích từ định mức lên bên thấp áp máy biến áp, trong cuộn dây cao áp cảm ứng ra điện áp cao tương ứng để thử nghiệm điện áp phân bố theo cuộn dây, nó có thể kiểm nghiệm cách điện phụ. Ngoài ra, đối với biến áp mà độ cách điện của điểm trung tính thấp hơn bộ phận đầu thì thử nghiệm cao áp bên ngoài đặt vào là không thích hợp, vì rằng điều này sẽ làm cho phần đầu, phần cuối của biến áp loại này vốn có độ cách điện khác nhau đều bị đặt dưới điện áp thử nghiệm giống nhau. Do đó cách điện chính và cách điện phụ của biến áp loại này phải dùng thử nghiệm cao áp cảm ứng để khảo nghiệm.

4 – 4 – 14

Hỏi: Thử nghiệm chịu áp cảm ứng tại sao không thể sử dụng nguồn điện 50Hz mà sử dụng nguồn điện 100 ~ 400Hz?

Đáp: Quan hệ giữa điện thế cảm ứng E trong cuộn dây biến áp và mật độ từ B trong trụ sắt là E = 4.44fWBS x 10-8V. Khi kết cấu của biến áp đã xác định thì số vòng của cuộn dây W, tiết diện tĩnh của trụ lõi sắt S (cm2) là trị số cố định. Do đó E = kfB, tức E tỉ lệ thuận với tần số f và B (Gaoxơ), căn cứ vào yêu cầu thử nghiệm chịu áp cảm ứng, khi nâng điện áp lên gấp hai lần trị số định mức, nếu f duy trì 50Hz không thay đổi thì B phải nâng lên tới hai lần trị số bình thường. Điều đó khiến lõi sắt bão hòa quá mức, do đó làm cho dòng điện không tải tăng đến mức không thể cho phép. Để làm cho B và dòng điện không tải không tăng, thậm chí giảm khi điện áp tăng đều gấp 2 lần thì chỉ cần nâng f của nguồn điện thí nghiệm chịu áp cảm ứng lên đến trên hai lần tần số định mức là được. Do đó, tần số thí nghiệm chịu áp cảm ứng nên áp dụng 100 ~ 400Hz.

4 – 4 – 15

Hỏi: Biến áp sau khi thử nghiệm cách điện giữa các lớp, tại sao phải kiểm tra dòng điện không có phụ tải và tổn thất không tải?

Đáp: Biến áp sau khi thử nghiệm cách điện giữa các lớp, phải tiến hành kiểm tra dòng điện không tải và tổn thất không tải để so sánh với số liệu đo được trước khi thử nghiệm cách điện giữa các lớp, nếu có tăng lên, chứng tỏ sau khi qua thử nghiệm cách điện giữa các lớp cách điện giữa các vòng dây đã trở nên xấu nên giữa các vòng cách điện đã trở nên xấu xảy ra ngắn mạch.

https://dienhathe.com


Điện Hạ Thế


Hotline: 0907 764 966 (Zalo) - Ms Nhung

email: info@dienhathe.com

Website: www.dienhathe.org

Điện Hạ Thế.com phân phối các sản phẩm thiết bị Điện Công Nghiệp, Biến Tần, Khởi Động Mềm,Phụ kiện tủ điện, dây cáp điện, ATS-Bộ Chuyển Nguồn Tự Động,Điện Dân Dụng,Tụ Bù, cuộn kháng, bộ điều khiển và các loại thiết bị tự động.:

Download Catalog sản phẩm, bảng giá thiết bị Điện Công Nghiệp tại : http://dienhathe.info

Related Posts:

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 17 – 7 Ổn áp nguồn điện

  17 – 7 – 1 Hỏi: Trong thiết bị...

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 8 – 6 Đo kiểm máy điện

8 – 6 – 1Hỏi: Đo nhiệt độ của máy...

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 19 – 1 Đo điện

  19 – 1 – 1 Hỏi: Khi tính công...