1500 Câu hỏi Nghành Điện | 4 – 6 Bộ điều Chỉnh điện áp và bộ hỗ cảm

4 – 6 – 1

Hỏi: Tại sao chổi điện của biến áp điều áp được chế tạo rất hẹp? Tại sao không sử dụng chổi điện bằng đồng – graphit bền chắc?

Đáp: Chổi điện của biến áp điều áp nói chung đều dùng chổi điện cacbon -graphit, và chế tạo rất hẹp, thường không vượt quá độ rộng hai sợi dây dẫn của cuộn dây. Bởi vì phần tiếp xúc giữa chổi điện với cuộn dây sẽ trực tiếp hình thành ngắn mạch, chổi điện càng rộng thì số sợi của cuộn dây bị ngắn mạch càng nhiều. Độ lớn của dòng điệnngắn mạch hoàn toàn do độ lớn của điện trở bên trong chổi điện quyết định. Nếu sử dụng chổi điện bằng đồng – graphit có điện trở bên trong rất nhỏ ắt sẽ gây nên dòng điệnngắn mạch tương đối lớn, khiến cuộn dây phát nóng, cháy hỏng.

4 – 6 – 2

Hỏi: Biến áp tự ngẫu với đầu vào 220V, đầu ra 0 – 250V, khi núm xoay xoay đến điện áp đầu ra bằng 0, nếu tay người chạm phải dây dẫn ra, có nguy hiểm không?

Đáp: Tuyệt đối không được. Vì bên sơ cấp và bên thứ cấp của biến áp tự ngẫu trực tiếp thông nhau, không có ngăn cách về điện (như hình 4 – 6 – 2). Đầu ra D nối liền với đầu vào B. Khi dầu C quay đến trùng với đầu D, điện áp giữa C, D của đầu ra tuy bằng 0, phải xem đầu vào B đấu vào lưới điện như thế nào để quyết định. Giả sử đầu B vừa đúng đấu vào dây 0 của lưới điện thì điện áp đầu ra với đất là 0, lúc này tay chạm vào đầu ra không nguy hiểm. Nhưng nếu đầu B đấu với dây nóng của lưới điện thì điện áp đầu ra đối với đất là 220V, lúc này người chạm vào đầu ra sẽ nguy hiểm.

4 – 6 – 3

Hỏi: Tại sao điện áp định mức bên thứ cấp của bộ hỗ cảm dòng điện đều là 5 ampe?

Đáp: Tác dụng của bộ hỗ cảm dòng điện là chuyển đổi dòng điện lớn của bên sơ cấp với trị số bất kỳ thành dòng điện nhỏ mà các loại đồng hồ phổ thông bên thứ cấp có thể đo được, cung cấp nguồn cho đồng hồ đo đạc và thiết bị bảo vệ. Dòng điện định mức bên thứ cấp của bộ hỗ cảm dòng điện đều sử dụng 5 ampe là nhằm tiêu chuẩn hóa có được dòng điện bên thứ cấp tiêu chuẩn, có thể làm cho toàn bộ thiết bị điện trong mạch thứ hai đều áp dụng kiểu tiêu chuẩn hóa.

4 – 6 – 4

Hỏi: Trong biến áp điều áp 10kV, tác dụng của cuộn dây L là gì?

Đáp: Nếu bỏ L thì biến thành mạch điện do hai máy biến áp điều áp tự ngẫu mắc song song tạo thành, xem hình 4 – 6 – 4 (b). Biến áp đầu song song muốn vận hành phải phù hợp ba điều kiện: cực liên kết giống nhau, điện áp trở kháng bằng nhau, tỉ số biến áp bằng nhau. Hai điều kiện trước đã thỏa mãn, nhưng tỉ số thường thường do sự khác biệt của hai cơ cấu trước, tiếp điểm trượt trong quá trình điều chỉnh điện áp hoặc do sự khác biệt về quấn cuộn dây nên khó thực hiện được hoàn toàn. Ví dụ, tỉ số biến áp KA > KB, thì điện thế bên thứ cấp EAB trong hai cuộn dây thứ cấp sẽ xuất hiện trị số hiệu thế điện động DE = EB – EA. Dưới tác dụng của DE, mạch cuộn dây thứ cấp sẽ sinh ra dòng điện vòng In, tăng thêm tổn hao phụ. Sau khi có L thì có thể giảm thiểu dòng điện vòng trong cuộn dây thứ cấp.

4 – 6 – 5

Hỏi: Bộ hỗ cảm dòng điện kiểu xuyên tâm, tại sao chỉ có cuộn dây thứ hai mà không có cuộn dây thứ nhất (như hình 4 – 6 – 5)? Nguyên lý của nó ra sao?

Đáp: Bộ hỗ cảm dòng điện kiểu xuyên tâm có lõi sắt hình vòng, khi sử dụng, dây cái được đo sẽ xuyên vào giữa lõi sắt hình vòng, dây cái này thay cho cuộn dây thứ nhất, cho nên bộ hỗ cảm chỉ có cuộn dây thứ hai.

Khi bộ hỗ cảm dòng điện kiểu xuyên tâm hoạt động, do tác dụng của dòng điện dây cái trong lõi sắt hình vòng sẽ sinh ra từ thông, từ thông xuyên qua cuộn dây thứ hai, trong cuộn dây thứ hai cảm ứng ra điện áp thứ hai và hình thành dòng điện. Độ lớn của dòng điện thứ hai này tỉ lệ thuận với dòng điện thứ nhất (dòng điện dây cái). Như vậy, sẽ có thể phản ánh độ lớn của dòng điện trong dây cái trên ampe kế của cuộn dây thứ hai.

4 – 6 – 6

Hỏi: Tại sao tỉ số cường độ dòng điện ghi trên nhãn (tỉ số nhãn) bộ hỗ cảm dòng điện luôn luôn lớn hơn tỉ số vòng thực tế của nó?

Đáp: Nếu tỉ số nhãn của bộ hỗ cảm dòng điện bằng tỉ số vòng, thì do chịu ảnh hưởng bởi tổn hao dòng điện kích từ, dòng điện thứ cấp của nó luôn nhỏ hơn trị số dòng điện thứ cấp được tính ra từ bên sơ cấp. Điều này dẫn đến dòng điện thứ cấp và dòng điện thứ cấp được chiết tính ra không bằng về trị số, vị trí pha cũng khác nhau, tức sẽ làm cho bộ hỗ cảm dòng điện sinh ra sai số (sai về trị tỉ số và góc pha). Để giảm sai số, ngoài giảm thiểu dòng điện kích từ ra còn áp dụng phương pháp bù số vòng hoặc bù vòng số lẻ của cuộn dây thứ cấp, tức số vòng thực tế của cuộn dây thứ cấp ít hơn số vòng tính toán một chút. Như vậy có thể giảm thiểu sai số trong phạm vi dòng điện định mức của bộ hỗ cảm dòng điện.

4 – 6 – 7

Hỏi: Tại sao khi cường độ dòng điện định mức của bộ hỗ cảm dòng điện ở dưới 200A thì cuộn dây sơ cấp thường quấn thành kiểu nhiều vòng, còn khi trên 600A thì thường quấn thành kiểu một vòng?

Đáp: Sai số của bộ hỗ cảm dòng điện gần như tỉ lệ nghịch với từ thế (tức ampe số vòng) bên sơ cấp. Khi dòng điện định mức tương đối nhỏ, nếu áp dụng kiểu một vòng thì từ thế của nó tương đối nhỏ, sai số sẽ lớn, chỉ có tăng số vòng của cuộn dây sơ cấp, tức quấn cuộn dây sơ cấp thành kiểu nhiều vòng mới có thể tăng từ thế cuộn dây sơ cấp, bảo đảm độ chính xác cần có khi dòng điện định mức trên 600 ampe, cho dù áp dụng kiểu một vòng thì từ thế cuộn dây sơ cấp của nó đã đủ lớn, có thể thỏa mãn độ chính xác.

4 – 6 – 8

Hỏi: Số vòng bên sơ cấp của bộ hỗ cảm dòng điện rất ít, còn số vòng bên thứ cấp rất nhiều, thế thì điện áp bên thứ cấp nhất định rất cao?

Đáp: Không phải. Bên thứ cấp bộ hỗ cảm dòng điện trong tình hình bình thường, do trở kháng phụ tải rất nhỏ, gần như vận hành ở trạng thái ngắn mạch, cho nên điện áp không cao, chỉ có khi bên thứ cấp hở mạch, điện áp bên thứ cấp do từ thông xoay chiều cảm ứng ra mới tăng cao, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng người sử dụng, đồng thời khiến lõi sắt bão hòa quá mức, dẫn đến từ dư quá cao, ảnh hưởng độ chính xác của bộ hỗ cảm dòng điện. Vì thế, trong khi vận hành, bên thứ cấp của bộ hỗ cảm dòng điện không cho phép hở mạch.

4 – 6 – 9

Hỏi: Tính ổn định của bộ hỗ cảm dòng điện là gì?

Đáp: Trên nhãn hiệu bộ hỗ cảm dòng diện có ghi ổn định nhiệt và ổn định động. Gọi ổn định là chỉ khả năng bộ hỗ cảm dòng điện có thể chịu đựng tác dụng của lực điện động và nhiệt do dòng điện tăng cao gây nên mà không đến nỗi bị hỏng. ổn định của bộ hỗ cảm dòng điện được biểu thị bằng bội số ổn định lực điện động và bội số ổn định nhiệt. Bội số ổn định lực điện động là tỉ số giữa trị tức thời của cường độ dòng điện lớn nhất mà bộ hỗ cảm có thể chịu được và trị số biên độ cường độ dòng điện định mức của bộ hỗ cảm này. Bội số ổn định nhiệt tức là tỉ số giữa dòng điện ổn định nhiệt với dòng điện định mức của bộ hỗ cảm và chỉ định cường độ dòng điện trong một giây không làm cho sự phát nhiệt của bộ hỗ cảm dòng điện vượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ, điện áp của bộ hỗ cảm dòng điện là 10kV, khi tỉ số biến đổi dòng điện là 200/5 thì ổn định động là 165 lần, ổn định nhiệt trong một giây là 15 lần.

4 – 6 – 10

Hỏi: Tiết diện hai lõi sắt của bộ hỗ cảm dòng điện kiểu LFZ 6 – 10kV đúc bằng nhựa Epoxi tại sao một lớn một nhỏ?

Đáp: Bộ hỗ cảm dòng điện kiểu LF2 6 – 10 ngàn vôn có một cuộn dây sơ cấp và hai cuộn dây thứ cấp. Trong bó dây thứ cấp có một cuộn dùng cho đồng hồ đo, một cuộn khác dùng bảo vệ rơle. Mỗi một cuộn của bó dây thứ cấp đều phối hợp với một lõi sắt. Cuộn dây dùng để đo, khi sử dụng bình thường thì tiết diện lõi sắt của nó tính theo cường độ dòng điện làm việc bình thường, nên tiết diện tương đối nhỏ. Cuộn dây dùng bảo vệ là tính theo tình hình khi ngắn mạch, vì dòng điệnngắn mạch thường gấp vài đến mười mấy lần dòng điện bình thường, để trong trường hợp này lõi sắt không bị bão hòa, cuộn dây thứ cấp có thể phản ánh độ lớn dòng điệnngắn mạch của sự cố, nên tiết diện lõi sắt của nó phải chọn tương đối lớn, cho nên có hai lõi sắt tiết diện khác nhau.

4 – 6 – 11

Hỏi: Dung lượng định mức thứ cấp của bộ hỗ cảm điện áp thường biểu thị bằng công suất biểu kiến còn dung lượng định mức thứ cấp của bộ hỗ cảm dòng điện lại thường biểu thị bằng trở kháng. Tại sao?

Đáp: Phụ tải thứ cấp của bộ hỗ cảm điện áp chủ yếu là cuộn đây điện áp của đồng hồ đo và rơle, dòng điện của nó gồm hai phần hữu công và vô công nên công suất được biểu đạt bằng công suất biểu kiến (S = ), dung lượng định mức thứ cấp của bộ hỗ cảm điện áp cũng biểu thị bằng công suất biểu kiến, đối ứng lẫn nhau như vậy, sử dụng sẽ tương đối thuận tiện.

Dung lượng đầu ra định mức của cuộn dây thứ cấp bộ hỗ cảm dòng điện: S2= ,còn cường độ dòng điện định mức thứ cấp qui định là 5A, cho nên S2 = 25Z. Qua công thức trên có thể biết, giữa dung lượng định mức với trở kháng thứ cấp định mức Z chỉ sai nhau một hệ số. Do đó, dung lượng định mức của nó có thể thay thế bằng trở kháng thứ cấp định mức. Khi trên nhãn hiệu bộ hỗ cảm dòng điện có ghi trị số ohm dưới độ chính xác nào đó thì trị số tổng trở kháng của trớ kháng cùng với những phụ tải mắc nối tiếp với cuộn dây như đồng hồ đo, rơle, điện trở dây dẫn không vượt quá trị số trở kháng qui định trên nhãn hiệu là được, sử dụng rất tiện lợi, nên dung lượng định mức bộ hỗ cảm dòng điện thường thay thế bằng trở kháng.

4 – 6 – 12

Hỏi: Tại sao trên nhãn hiệu bộ hỗ cảm điện áp ghi nhiều loại dung lượng?

Đáp: Bộ hỗ cảm điện áp là biến áp dùng cho đồng hồ. Nó dùng cách đo điện áp bên thứ cấp để có được số đo điện áp (cao áp) bên sơ cấp. Do kim đồng hồ đo đấu ở bên thứ cấp mà lại đo bên sơ cấp, trong đó ắt có sai số. Sự sai số này gồm hai phần: một là sai số về tỉ lệ, tức sai số về độ lớn trị số điện áp; hai là sai góc, tức sai số về vị trí pha vectơ điện áp sơ cấp, thứ cấp. Do sai số của bộ hỗ cảm điện áp thay đổi theo sự thay đổi trị số phụ tải của nó, cho nên độ chính xác của nó thích ứng với dung lượng, tức dung lượng định mức là chỉ đung lượng tương ứng với độ chính xác cao nhất. Các độ chính xác khác ghi trên nhãn hiệu đều có dung lượng tương ứng của nó, mà dung lượng tăng lên thì độ chính xác giảm.

4 – 6 – 13

Hỏi: Dung lượng lớn nhất và dung lượng định mức thể hiện trên nhãn hiệu bộ hỗ cảm điện áp có gì khác nhau?

Đáp: Dung lượng định mức là để chỉ dung lượng mà bộ hỗ cảm điện áp có thể đạt được khi vận hành ở cấp chính xác thiết kế, nếu sử dụng phụ tải trong phạm vi dung lượng định mức thì bảo đảm có thể đạt được cấp chính xác thiết kế. Còn dung lượng lớn nhất là căn cứ vào nhiệt độ cho phép của cuộn dây bộ hỗ cảm điện áp để xem xét, do đó sử dụng phụ tải đến dung lượng lớn nhất thì không thể bảo đảm độ chính xác của nó, thông thường dung lượng lớn nhất lớn hơn dung lượng định mức.

4 – 6 – 14

Hỏi: Bộ hỗ cảm đúc bằng nhựa (êpôxy), tại sao phải sơn lớp bán dẫn ra ngoài thân nhựa đúc?

Đáp: Bộ hỗ cảm đúc bằng nhựa (êpôxy) không có vỏ sứ ra dây mà bên ngoài lớp nhựa của nó cũng không thể tiếp đất. Trong vận hành, khi đường sức điện của điện trường xuyên qua mặt tiếp giáp giữa không khí với nhựa, do thông số môi chất của chúng khác nhau nên xuất hiện điện trường tập trung sẽ dẫn đến phóng điện cục bộ. Vì thế, phải sơn lớp sơn bán dẫn lên ngoài vỏ đúc bằng nhựa, để cho mặt ngoài của bộ hỗ cảm có điện thế bằng nhau trong điện trường, như vậy có thể phòng ngừa phóng điện cục bộ.

4 – 6 – 15

Hỏi: Ba bộ hỗ cảm điện áp một pha có tỉ số là (10000/ )/(l00/ ), khi dùng với hệ thống 6kV, nên đấu dây như thế nào?

Đáp: Bộ hỗ cảm điện áp hoạt động dưới điện áp định mức thì mới có thể bảo đảm độ chính xác cần có. Vì thế ba bộ hỗ cảm điện áp một pha có tỉ số là    (10000/)/(l00/) khi; dùng với hệ thống 6kV thì phải đấu thành D/Y. Lúc này, điện áp mỗi cuộn dây bên sơ cấp nhận được gần với điện áp định mức 10000/V của nó, điện áp mà mỗi cuộn dây bên thứ cấp có được gần với điện áp định mức 100/V của nó, điện áp đầu ra giữa các pha bên thứ cấp bằng 100V, có thể đáp ứng yêu cầu của đồng hồ và rơle.

4 – 6 – 16

Hỏi: Khi dùng phương pháp thông thường để đo điện trở cách điện và tổn hao môi chất (tgδ của sơ cấp bộ hỗ cảm điện áp kiểu xuyên cấp đối với thứ cấp, thứ ba và đất tại sao khi điện trở cách điện tương đối thấp thì tgδ có lúc tương đối lớn, lại có lúc tương đối nhỏ?

Đáp: Cách điện phần sơ cấp bộ hỗ cảm kiểu xuyên cấp đối với thứ cấp, thứ ba và đất là do các chi tiết cách điện như cách điện giữa các cuộn dây, giá cách điện và tấm mặt đầu thứ cấp v.v… đấu song song lại mà tạo thành, do đó trị số điện trở cách điện trong mỗi chi tiết. Còn quan hệ giữa tổng tiêu hao môi chất (tgδ của mạch điện đẳng trị mắc song song và tổn hao môi chất giữa các chi tiết là:

Trong công thức C1, C2… Cn là điện dung của các chi tiết cách điện, tgδl, tgδ2…tgδn là tổn hao môi chất của các chi tiết. Vì thế, tgδ nhỏ hơn trị số lớn nhất của tổn hao môi chất trong các chi tiết và lớn hơn trị số nhỏ nhất của tổn hao môi chất trong các chi tiết. Nếu khi cách điện giữa các cuộn dây hoặc tấm mặt đầu thứ cấp không tốt dẫn đến điện trở cách điện tương đối thấp, thì do lượng điện dung của các chi tiết cách điện này tương đối lớn, cho nên tgδ đo được tương đối lớn; nếu khi chỉ vật liệu giá đỡ không tốt khiến điện trở cách điện tương đối thấp thì do lượng điện dung của giá đỡ rất nhỏ, cho nên tgδ đo được tương đối nhỏ.

4 – 6 – 17

Hỏi: Bộ hỗ cảm điện áp 35kV tại sao phải có cầu chì và điện trở phụ, còn bộ hỗ cảm điện áp 110kV lại không cần?

Đáp: Khoảng cách giữa các dây của bộ hỗ cảm điện áp 35kV tương đối nhỏ, dễ xảy ra sự cố ngắn mạch, để nhanh chóng khắc phục sự cố ngắn mạch, phải lắp cầu chì kiểu sừng, và lắp điện trở phụ để phối hợp dung lượng ngắt của cầu chì nhằm hạn chế dòng điệnngắn mạch, còn khoảng cách dây của bộ hỗ cảm điện áp 110kV tương đối lớn, khả năng xảy ra ngắn mạch rất nhỏ, nếu xảy ra ngắn mạch cũng không có cầu chì thích hợp, vì thế trực tiếp đấu lên dây điện, dựa vào bộ ngắt mạch để bảo vệ.

4 – 6 – 18

Hỏi: Việc giám sát cách điện của hệ thống 35kV sử dụng bộ hỗ cảm điện áp do ba cuộn dây một pha tạo thành, còn loại 6 – 15kV sử dụng kiểu 5 trụ 3 pha. Tại sao?

Đáp: Vì rằng phụ tải của bộ hỗ cảm điện áp hệ thống 6 – 15kV không lớn, sử dụng bộ hỗ cảm điện áp kiểu 5 trụ 3 pha, đem điểm trung tính của cuộn dây sơ cấp tiếp đất, vừa có thể dùng để đo điện áp dây và điện áp pha. Vừa có thể dùng để giám sát cách điện giữa mạng điện với đất và thực hiện bảo vệ rơle một pha tiếp đất, giá rẻ, thể tích nhỏ. Còn cấp điện áp của hệ thống 35kV tương đối cao, thể tích bộ hỗ cảm điện áp tương đối lớn, nếu sử dụng kiểu 5 trụ 3 pha thì sẽ rất nặng nề, lắp ráp, vận chuyển đều bất tiện, nên sử dụng ba bộ hỗ cảm điện áp ba cuộn dây một pha, đem cuộn sơ cấp đấu thành hình sao và điểm trung tính tiếp đất, cuộn dây thứ cấp đấu thành hình sao, cuộn dây điện áp thứ tự 0 đấu thành hình tam giác nhỏ miệng. Như vậy vừa có chức năng kiểu 5 trụ 3 pha lại vừa tiện vận chuyển, lắp ráp và bảo quản.

4 – 6 – 19

Hỏi: Tại sao vỏ bộ hỗ cảm điện áp kiểu xuyên 110kV sử dụng ống sứ mà không dùng hộp sắt?

Đáp: Bộ hỗ cảm này là do hai đơn nguyên giống nhau mắc nối tiếp vào giữa pha và đất (như hình 4 – 6 – 19), điện áp của mỗi đơn nguyên là (1/2)Uxg (điện áp pha của lưới điện). Do điểm giữa của cuộn dây mỗi đơn nguyên nối với lõi sắt, vì thế cách điện giữa vòng dây hai đầu cuộn dây với lõi sắt chỉ cần thiết kế với điện áp (l/4)Uxg. Giữa hai lõi sắt và giữa lõi sắt với vỏ đều phải cách điện. Nếu dùng vỏ bằng hộp sắt thì phải tăng rất nhiều vật liệu cách điện, khiến bộ hỗ cảm thêm nặng nề và giá thành chế tạo sẽ cao. Sử dụng vỏ bằng ống sứ sẽ dễ giải quyết cách điện giữa lõi sắt với vỏ và có thể giảm được cái cách điện của ống , giảm đáng kể thể tích , giảm được giá thành

4 – 6 – 20

Hỏi: Trên lõi sắt bộ hỗ cảm điện áp kiểu xuyên cấp, tại sao phải quấn thêm cuộn dây cân bằng?

Đáp: Tác dụng của cuộn dây cân bằng là làm cho điện áp cuộn dây của các đơn nguyên phân bố đồng đều, nâng cao độ chính xác đo. Bởi vì cuộn dây thứ cấp quấn trên trụ lõi sắt dưới của lõi sắt cấp cuối (như hình 4 – 6 – 20), sau khi cuộn thứ cấp có tải, dòng điện phụ tải sẽ sinh ra từ thông khử từ, khiến tổng từ thông trong lõi sắt cấp cuối nhỏ hơn từ thông của các lõi sắt khác, từ đó khiến điện thế cảm ứng của cuộn dây các đơn nguyên không bằng nhau, do đó độ chính xác giảm thấp. Vì thế, lắp thêm cuộn dây cân bằng mà số vòng, chiều quấn giống nhau lên lõi sắt hai đơn nguyên, rồi đấu ngược chiều. Như vậy khi từ thông của hai đơn nguyên không bằng nhau, trong cuộn dây cân bằng sẽ sinh ra dòng điện vòng, dòng điện này khử từ lõi sắt từ thông tương đối lớn, làm tăng từ ở lõi sắt có từ thông tương đối nhỏ, nên từ thông trong lõi sắt các cấp đại thể bằng nhau, từ đó khiến điện áp cuộn dây các đơn nguyên phân bố tương đối đồng đều, nâng cao được độ chính xác của bộ hỗ cảm điện áp.

4 – 6 – 21

Hỏi: Khi chọn thiết bị điện của trạm biến điện, nói chung điện áp định mức UH của thiết bị lớn hơn hoặc bằng điện áp định mức US mang điện ở nơi lắp đặt là được .Còn bộ hỗ cảm điện áp thì ngoại lệ. Tại sao?

Đáp: Căn cứ vào UH ³ US để chọn thiết bị điện của trạm biến điện, chủ yếu là bảo đảm sự an toàn tin cậy của nó trong vận hành. Ở nhà máy chế tạo, thiết bị điện còn xem xét điện áp làm việc cao hơn điện áp định mức 10 – 15% còn theo qui định, điện áp cao nhất của lưới điện không được lớn hơn 5% điện áp định mức của lưới điện. Vì thế, chỉ cần chọn UH > US thì có thể bảo đảm sự vận hành an toàn tin cậy của thiết bị điện trong lưới điện. Còn bộ hỗ cảm điện áp là thông qua bên thứ cấp để đo điện áp bên sơ cấp, ngoài yêu cầu chịu áp ra còn có yêu cầu độ chính xác. Vì thế UH phải thích ứng với điện lưới đầu vào, nói chung yêu cầu điện áp bên sơ cấp Ul tác dụng vào nó phải thỏa mãn 1.1UH > Ul > 0.9 UH. Như vậy mới bảo đảm độ chính xác nhất định.

4 – 6 – 22

Hỏi: Tác dụng của dây cầu chì bên cao áp và bên thấp áp của bộ hỗ cảm điện áp có giống nhau không?

Đáp: Không giống nhau. Nói chung trong mạch điện bên thấp áp đều lắp dây cầu chì điện áp thấp không lớn hơn 2 ampe, dùng để phòng ngừa quá tải hoặc ngắn mạch của mạch điện đấu với bên thấp áp. Còn cầu chì bên cao áp chỉ có thể phòng ngừa ngắn mạch của chính bộ hỗ cảm, không thể chống quá tải. Bởi vì, dòng điện mà cường độ cơ học của dây cầu chì cao áp có thể chịu đựng được phải lớn hơn nhiều lần dòng điện định mức của cuộn dây. Đồng thời, có lúc còn mắc nối tiếp điện trở hạn dòng, dùng để hạn chế dòng điện khi ngắn mạch.

4 – 6 – 23

Hỏi: Tại sao trên đầu ra thứ cấp của bộ hỗ cảm diện áp kiểu điện dung phải  mắc nối tiếp một cuộn dây điện cảm L?

Đáp: Bộ hỗ cảm điện áp điện dung, kỳ thực là một bộ phân áp điện dung (như hình 4 – 6 – 23). Khi không tải, điện áp đầu ra của hai đầu a, b là:

Nhưng khi đấu phụ tải vào hai đầu a, b thì UC2 sẽ nhỏ hơn trị số phân áp điện dung, mà dòng điện phụ tải càng lớn thì điện áp càng thấp, chênh lệch rất lớn. Chủ yếu là do sụt áp trên trở kháng trong Z; của chính tụ điện gây nên.

Nếu đầu ra a, b mắc nối tiếp điện cảm L, thì:

Khi thì Z’i = 0, tức mắc nối tiếp L đã bổ sung được trở kháng trong của tụ điện. Lúc này UC2 sẽ không sụt quá nhiều do dòng điện tăng, nên đã nâng cao được độ chính xác của bộ hỗ cảm điện áp kiểu điện dung.

4 – 6 – 24

Hỏi: Đấu nhiều đồng hồ vào thứ cấp bộ hỗ cảm dòng điện, tại sao độ chính xác sẽ giảm thấp?

Đáp: Đấu nhiều đồng hồ vào thứ cấp bộ hỗ cảm dòng điện thì sẽ tăng thế điện động của thứ cấp và điện áp của sơ cấp, từ đó làm tăng dòng điện không tải của nó. Còn sai số của bộ hỗ cảm dòng điện sẽ tăng lên theo sự tăng lên của dòng điện không tải, như vậy sẽ làm giảm độ chính xác.

4 – 6 – 25

Hỏi: Tại sao cùng một bộ hỗ cảm điện áp có vài loại dung lượng tiêu chuẩn khác nhau, và là khác nhau theo mức độ cao thấp của cấp độ chính xác ? Nếu căn cứ vào dung lượng lớn nhất (giới hạn) đã qui định để đấu phụ tải (máy móc đo và rơle) có được không?

Đáp: Cấp chính xác của bộ hỗ cảm điện áp là cấp chính xác cao nhất có thể có của nó dưới phụ tải định mức. Nếu phụ tải tăng lên, sai số cũng tăng lên, cấp chính xác sẽ giảm, ngược lại cấp chính xác sẽ cao hơn. Vì thế, cấp chính xác của bộ hỗ cảm điện áp có liên quan rất lớn đến phụ tải. Dung lượng tiêu chuẩn của nó chính là căn cứ vào dung lượng mà một cấp chính xác nào đó có thể cho phép để qui định. Cho nên, dung lượng tiêu chuẩn của nó sẽ có sự qui định khác nhau tùy theo cấp chính xác khác nhau.

Dung lượng lớn nhất mà bộ hỗ cảm điện áp qui định khác với dung lượng tiêu chuẩn, nó là dung lượng lớn nhất mà điều kiện phát nhiệt vận hành lâu dài cho phép, khi qui định dung lượng này không xét đến độ chính xác, cho nên sai số tương đối lớn. Khi đồng hồ đo và rơle mà nguồn nuôi có yêu cầu cấp chính xác thì không thể áp dụng dung lượng lớn nhất và không được vượt quá dung lượng tiêu chuẩn đã qui định. Nếu không sẽ tăng sai số, ảnh hưởng làm độ chính xác. Chỉ có khi đồng hồ mà nguồn nuôi không có yêu cầu cấp chính xác và trị số sai số không ảnh hưởng đến sự làm việc chính xác của nó thì mới cho phép dùng đến dung lượng lớn nhất.

https://dienhathe.com


Điện Hạ Thế


Download Bảng GiáCatalog mới nhất Tại:

http://dienhathe.info

Hotline: 0907 764 966

email: info@dienhathe.com

Website: www.dienhathe.org

Điện Hạ Thế.com phân phối các sản phẩm thiết bị Điện Công Nghiệp, Biến Tần, Khởi Động Mềm,Phụ kiện tủ điện, dây cáp điện, ATS-Bộ Chuyển Nguồn Tự Động,Điện Dân Dụng,Tụ Bù, cuộn kháng, bộ điều khiển và các loại thiết bị tự động.:

Download Catalog sản phẩm, bảng giá thiết bị Điện Công Nghiệp tại : http://dienhathe.info

Related Posts:

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 13 – 1 Đèn sáng trắng

13 – 1 – 1 Hỏi: Tại sao bóng đèn...

he-thong-dien-dienhathe

1500 Câu hỏi Nghành Điện | 8 – 6 Đo kiểm máy điện

8 – 6 – 1Hỏi: Đo nhiệt độ của máy...

Xuân 2020