Thiết Bị Đóng Cắt

Contactor (Công tắc tơ) hay còn gọi là Khởi động từ là khí cụ điện hạ áp, thực hiện việc đóng cắt thường xuyên các mạch điện động lực. Contactor là thiết bị điện đặc biệt quan trọng trong hệ thống điện. Nhờ có contactor ta có thể điều khiển các thiết bị như động cơ, tụ bù, hệ thống chiếu sáng,… thông qua nút nhấn, chế độ tự động hoặc điều khiển từ xa.

 

Contactor - Khởi động từ

Hình ảnh: Contactor – Khởi động từ S-T50 của Mitsubishi

Thao tác đóng ngắt của contactor có thể thực hiện nhờ cơ cấu điện từ, cơ cấu khí động hoặc cơ cấu thủy lực. Nhưng thông dụng nhất là các loại contactor điện từ. Trong bài viết này sẽ chỉ đề cập đến contactor đóng ngắt theo cơ chế điện từ.

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của Contactor:

Contactor bao gồm 3 bộ phận chính:

1. Nam châm điện: gồm có các chi tiết: Cuộn dây dùng tạo ra lực hút nam châm;  Lõi sắt; Lò xo tác dụng đẩy phần nắp trở về vị trí ban đầu.

2. Hệ thống dập hồ quang: Khi chuyển mạch, hồ quang điện sẽ xuất hiện làm các tiếp điểm bị cháy và mòn dần, vì vậy cần hệ thống dập hồ quang.

3. Hệ thống tiếp điểm: gồm có tiếp điểm chính và tiếp điểm phụ

•        Tiếp điểm chính: Có khả năng cho dòng điện lớn đi qua. Tiếp điểm chính là tiếp điểm thường hở đóng lại khi cấp nguồn vào mạch từ của contactor trong tủ điện làm mạch từ hút lại.

•        Tiếp điểm phụ: Có khả năng cho dòng điện đi qua các tiếp điểm nhỏ hơn 5A. Tiếp điểm phụ có hai trạng thái: Thường đóng và thường mở.

Tiếp điểm thường đóng là loại tiếp điểm ở trạng thái đóng (có liên lạc với nhau giữa hai tiếp điểm) khi cuộn dây nam châm trong contactor ở trạng thái nghỉ (không được cung cấp điện). Tiếp điểm này mở ra khi contactor ở trạng thái hoạt động. Ngược lại là tiếp điểm thường mở.

Như vậy, hệ thống tiếp điểm chính thường được lắp trong mạch điện động lực, còn các tiếp điểm phụ sẽ lắp trong hệ thống mạch điều khiển của Contactor.

 

 

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của Contactor - Khởi động từ

Hình ảnh: Cấu tạo Contactor – Khởi động từ

Nguyên lý hoạt động của contactor như sau: Khi cấp nguồn trong mạch điện điều khiển bằng với giá trị điện áp định mức của Contactor vào hai đầu cuộn dây quấn trên phần lõi từ đã được cố định trước đó thì lực từ sinh ra sẽ hút phần lõi từ di động và hình thành mạch từ kín (lúc này lực từ sẽ lớn hơn phản lực của lò xo). Contactor bắt đầu trạng thái hoạt động.

Nhờ bộ phận liên động về cơ giữa lõi từ di động và hệ thống tiếp điểm sẽ làm cho tiếp điểm chính đóng lại và tiếp điểm phụ chuyển đổi trạng thái (khi thường đóng sẽ mở ra và khi thường hở sẽ đóng lại), trạng thái này sẽ được duy trì. Khi nguồn điện ngưng cấp cho cuộn dây thì contactor ở trạng thái nghỉ và các tiếp điểm lại trở về trạng thái ban đầu.

Thông số cơ bản của Contactor:

– Dòng điện định mức: Là dòng điện chảy qua hệ thống tiếp điểm chính của contactor khi đóng mạch điện phụ tải. Với giá trị này của dòng điện, mạch dẫn điện chính của contactor không bị phát nóng quá giới hạn cho phép.

– Điện áp định mức: Là điện áp đặt trên hai cực của mạch dẫn điện chính của contactor.

– Khả năng đóng của contactor: Được đánh giá bằng giá trị dòng điện mà contactor có thể đóng thành công. Thường thì giá trị này bằng từ 1 đến 7 lần giá trị dòng điện định mức.

– Khả năng ngắt của contactor: Được đánh giá bằng giá trị dòng điện ngắt, mà ở giá trị đó, contactor có thể tác động ngắt thành công khỏi mạch điện. Thường giá trị này bằng từ 1 đến 10 lần dòng điện định mức.

– Độ bền cơ: Là số lần đóng ngắt khi không có dòng điện chảy qua hệ thống tiếp điểm của contactor. Vượt quá số lần đóng ngắt đó, các tiếp điểm xem như bị hư hỏng, không còn sử dụng được nữa. Các loại contactor thường có độ bền cơ từ 5 triệu đến 10 triệu lần đóng ngắt.

– Độ bền điện: Là số lần đóng ngắt dòng điện định mức. Contactor loại thường có độ bền điện vào khoảng 200.000 đến 1 triệu lần đóng ngắt.

Phân loại Contactor:

Có nhiều cách phân loại contactor:

– Theo nguyên lý truyền động: Ta có contactor kiểu điện từ, kiểu hơi ép, kiểu thủy lực,… Thường thì ta gặp contactor kiểu điện từ.

– Theo dạng dòng điện: Contactor điện một chiều và contactor điện xoay chiều.

– Theo kết cấu: Người ta phân contactor dùng ở nơi hạn chế chiều cao (như bảng điện ở gầm xe) và ở nơi hạn chế chiều rộng (ví dụ buồng tàu điện).

– Theo dòng điện định mức: Contactor 9A, 12A, 18A,…. 800A hoặc lớn hơn.

– Theo số cực: Contactor 1 pha, 2 pha, 3 pha, 4 pha. Phổ biến nhất là contactor 3 pha.

– Theo cấp điện áp: Contactor trung thế, contactor hạ thế.

– Theo điện áp cuộn hút: Cuộn hút xoay chiều 220VAC, 380VAC,… cuộn hút 1 chiều 24VDC, 48VDC,…

– Theo chức năng chuyên dụng: Một số hãng chế tạo contactor chuyên dụng cho một ứng dụng đặc thù ví dụ contactor chuyên dùng cho tụ bù của hãng Schneider,…

Ưu điểm của Contactor:

Kích thước nhỏ gọn có thể tận dụng khoảng không gian hẹp để lắp đặt và thao tác mà cầu dao không thực hiện được. Điều khiển đóng cắt từ xa có vỏ ngăn hồ quang phóng ra bên ngoài nên an toàn tuyệt đối cho người thao tác với hệ thống điện, thời gian đóng cắt nhanh, độ bền cao, hoạt động ổn định,… vì những ưu điểm trên contactor được sử dụng rộng rãi để điều khiển đóng cắt trong mạch điện hạ áp đặc biệt sử dụng nhiều trong các nhà máy công nghiệp.

Ứng dụng của Contactor:

Contactor là thiết bị điều khiển để đóng ngắt nguồn cấp cho thiết bị do đó được sử dụng rất phổ biến trong hệ thống điện.

Trong công nghiệp Contactor được sử dụng để điều khiển vận hành các động cơ hay thiết bị điện để an toàn khi vận hành. Đây là một giải pháp tự động hóa bằng phương pháp cơ điện. Phương pháp này không xử lý những quá trình phức tạp nhưng nó đơn giản và có độ ổn định cao, dễ sửa chữa.

Contactor (Khởi động từ) kết hợp Rơ le nhiệt điều khiển động cơ

Hình ảnh: Contactor (Khởi động từ) kết hợp Rơ le nhiệt điều khiển động cơ

Trong ngành tự động hóa ngày nay đòi hỏi xử lý những công việc có tính chất phức tạp và khó khăn cần phải có sự can thiệp của bộ xử lý nên phương pháp cơ điện tử ra đời để đáp ứng được những quy trình sản xuất tiên tiến. Contactor vẫn là thiết bị được sử dụng nhiều trong công nghiệp và cả dân dụng:

– Contactor điều khiển động cơ: cấp nguồn cho động cơ khởi động trực tiếp. Contactor được dùng kết hợp với Rơ le nhiệt để bảo vệ quá tải cho động cơ.

– Contactor khởi động sao – tam giác: thay đổi chế độ hoạt động của động cơ từ sơ đồ hình sao khi khởi động sang sơ đồ tam giác khi động cơ đã vận hành ổn định, mục đích để giảm dòng khởi động.

– Contactor điều khiển tụ bù: đóng ngắt các tụ bù vào lưới điện để bù công suất phản kháng. Contactor được dùng trong hệ thống bù tự động được điều khiển bằng bộ điều khiển tụ bù đảm bảo đóng cắt các cấp tụ phù hợp với tải.

– Contactor điều khiển đèn chiếu sáng: có thể điều khiển contactor bằng rơ le thời gian hoặc PLC để đóng cắt điện cấp cho đèn chiếu sáng để bật/tắt đèn theo giờ quy định.

Cách chọn Contactor:

Lựa chọn contactor cho động cơ:

Để lựa chọn Contactor phù hợp cho động cơ ta phải dựa vào những thông số cơ bản như Uđm, P , Cosphi

–  Iđm = Itt x 2

–  Iccb = Iđm x 2

–  Ict   = (1.2 – 1.5) x Iđm

Ta tính toán trong ví dụ cụ thể như sau:

Tải động cơ 3P, 380V, 3KW, tính toán dòng định mức theo công thức như sau:

Iđm = P / (1.73 x 380 x 0.85) ở đây hệ số cosphi là 0.85.

Ta tính được: Iđm = 3000 / (1.73 x 380 x 0.85) = 5.4 A

Ict = (1.2 – 1.4) Iđm.

Ta tính được: Ict = 1.4 x 5.4 = 7.56A

Nên chọn Contactor có dòng lớn hơn dòng tính toán.

Có thể chọn contactor 9A của LS (MC-9b), Mitsubishi (S-T10),…

Chọn contactor cho động cơ phải lưu ý đến điện áp cuộn hút và tiếp điểm phụ.

Lựa chọn contactor cho tụ bù:

 

Để lựa chọn Contactor phù hợp cho tụ bù ta phải dựa vào dòng điện định mức của tụ bù.

Ví dụ tụ 3 pha 415V 50kVAr có dòng định mức 69.6A.

Chọn contactor lớn hơn từ 1.2 lần dòng định mức của tụ = 6.9.6A x 1.2 = 83.52A.

Có thể chọn contactor 85A của LS (MC-85a), 100A của Mitsubishi (S-T100),…

Chọn contactor dòng cao thì tốt hơn nhưng chi phí sẽ cao hơn, kích thước lớn hơn sẽ mất nhiều không gian lắp đặt.

Ngoài ra phải lưu ý điện áp cuộn hút, Contactor dùng cho tụ bù có thể dùng 2 loại cuộn hút 220VAC hoặc 380VAC, dùng nhiều nhất là loại Contactor cuộn hút 220VAC.

 

Tham khảo một số dòng Contactor thông dụng:

 

 

Contactor (Khởi động từ) LS:

Contactor LS - Khởi động từ LS

 

Contactor (Khởi động từ) Mitsubishi:

 

Khởi động từ Mitsubishi, Contactor Mitsubishi Nhật Bản

 

 

Contactor (Khởi động từ) Schneider:

 

 Thiết bị điện Schneider - Contactor (Khởi động từ) Schneider

Aptomat là tên thường gọi của thiết bị đóng cắt tự động (cầu dao tự động). Trong tiếng Anh thiết bị đóng cắt là Circuit Breaker (viết tắt là CB). Aptomat có chức năng bảo vệ quá tải và ngắn mạch trong hệ thống điện. Một số dòng Aptomat có thêm chức năng bảo vệ chống dòng rò được gọi là aptomat chống rò hay aptomat chống giật. Aptomat đôi khi còn được gọi theo cách ngắn gọn là Át.

 Aptomat MCCB Schneider

Hình ảnh: Aptomat MCCB của hãng Schneider

Phân loại Aptomat:

1/ Phân loại theo cấu tạo:

– Aptomat dạng tép MCB (Miniature Circuit Breaker): bảo vệ quá tải và ngắn mạch.

 Aptomat dạng tép MCB của hãng LS

Hình ảnh: Aptomat dạng tép MCB của hãng LS

– Aptomat dạng khối MCCB (Moulded Case Circuit Breaker): bảo vệ quá tải và ngắn mạch.

 Aptomat dạng khối MCCB của hãng Mitsubishi

Hình ảnh: Aptomat dạng khối MCCB của hãng Mitsubishi

2/ Phân loại theo chức năng:

– Aptomat thường (bảo vệ quá tải, ngắn mạch): MCB, MCCB

– Aptomat chống rò: RCCB (Residual Current Circuit Breaker – aptomat chống dòng rò dạng tép), RCBO (Residual Current Circuit Breaker with Overcurrent Protection – aptomat chống dòng rò và bảo vệ quá tải dạng tép), ELCB (Earth Leakage Circuit Breaker – aptomat chống dòng rò và bảo vệ quá tải dạng khối).

3/ Phân loại theo số pha / số cực:

– Aptomat 1 pha: 1 cực

– Aptomat 1 pha + trung tính (1P+N): 2 cực

– Aptomat 2 pha: 2 cực

– Aptomat 3 pha: 3 cực

– Aptomat 3 pha + trung tính (3P+N): 4 cực

– Aptomat 4 pha: 4 cực

4/ Phân loại theo dòng cắt ngắn mạch:

– Dòng cắt thấp: thường dùng trong dân dụng. Ví dụ MCCB NF125-CV 3P 100A của Mitsubishi có dòng cắt 10kA.

– Dòng cắt tiêu chuẩn: thường dùng trong công nghiệp. Ví dụ MCCB NF125-SV 3P 100A của Mitsubishi có dòng cắt 30kA.

– Dòng cắt cao: thường dùng trong công nghiệp và các ứng dụng đặc biệt. Ví dụ MCCB NF125-HV 3P 100A của Mitsubishi có dòng cắt 50kA.

5/ Phân loại theo khả năng chỉnh dòng:

– Aptomat có dòng định mức không đổi. Ví dụ MCCB NF400-SW 3P 400A của Mitsubishi có dòng định mức 400A không thay đổi được.

– Aptomat chỉnh dòng định mức. Ví dụ MCCB NF400-SEW 3P 400A của Mitsubishi có dòng định mức điều chỉnh được từ 200A – 400A.

Trong bài viết này sẽ giới thiệu về Aptomat thường MCB và MCCB.

Xem thêm bài viết về Aptomat chống dòng rò (Aptomat chống giật)

Cấu tạo Aptomat

Aptomat (MCB hay MCCB) thường được chế tạo có hai cấp tiếp điểm (tiếp điểm chính và hồ quang) hoặc ba tiếp điểm (chính, phụ, hồ quang).

Khi đóng mạch, tiếp điểm hồ quang đóng trước, tiếp theo là tiếp điểm phụ, sau cùng là tiếp điểm chính. Khi cắt mạch thì ngược lại, tiếp điểm chính mở trước, sau đến tiếp điểm phụ, cuối cùng là tiếp điểm hồ quang. Như vậy hồ quang chỉ cháy trên tiếp điểm hồ quang, do đó bảo vệ được tiếp điểm chính để dẫn điện. Dùng thêm tiếp điểm phụ để tránh hồ quang cháy lan vào làm hư hại tiếp điểm chính.

Cấu tạo Aptomat MCB Multi9 Schneider

Hình ảnh: Cấu tạo Aptomat MCB Schneider

 

Cấu tạo Aptomat MCCB Schneider

Hình ảnh: Cấu tạo Aptomat MCCB Schneider

Nguyên lý hoạt động của Aptomat:

Nguyên lý hoạt động của Aptomat

Ở trạng thái bình thường sau khi đóng điện, Aptomat được giữ ở trạng thái đóng tiếp điểm nhờ móc 2 khớp với móc 3 cùng một cụm tiếp điểm động. Bật Aptomat ở trạng thái ON, với dòng điện định mức nam châm điện 5 và phần ứng 4 không hút.

Khi mạch điện quá tải hay ngắn mạch, lực hút điện từ ở nam châm điện 5 sẽ hút phần ứng 4 xuống làm bật nhả móc 3, móc 5 được thả tự do, lò xo 1 được thả lỏng, kết quả các tiếp điểm của Aptomat được mở ra, mạch điện bị ngắt.

Các thông số kỹ thuật của Aptomat:

– In: Dòng điện định mức. Ví dụ: MCCB 3P 250A 36kA, In = 250A.

– Ir: là dòng hoạt động được chỉnh trong phạm vi cho phép của Aptomat. Ví dụ aptomat chỉnh dòng 250A có thể điều chỉnh từ 125A đến 250A.

– Ue: Điện áp làm việc định mức.

– Icu: Dòng cắt ngắn mạch là khả năng chịu đựng dòng điện lớn nhất của tiếp điểm trong 1 giây.

– Icw: Khả năng chịu dòng ngắn mạch trong 1 đơn vị thời gian.

– Ics: khả năng cắt thực tế khi xảy ra sự cố của thiết bị. Khả năng này phụ thuộc vào từng nhà sản xuất do công nghệ chế tạo khác nhau. Ví dụ cùng một hãng sản xuất nhưng có 2 loại MCCB là Ics = 50% Icu và Ics = 100% Icu.

– AT: Ampe Trip (dòng điện tác động)

– AF: Ampe Frame (dòng điện khung). Ví dụ NF250A 3P 200A và NF250A 3P 250A đều có AF = 250A nhưng một cái sẽ tác động khi dòng vượt quá AT = 200A, một cái sẽ tác động khi dòng vượt quá AT = 250A. Thông số AT/AF cho biết độ bền của tiếp điểm đóng cắt. Ví dụ Aptomat 250AT/400AF sẽ có độ bền cao hơn Aptomat 250AT/250AF, kích thước aptomat 400AF cũng lớn hơn, giá thành cao hơn.

– Characteritic cuver: là đường cong đặc tính bảo vệ của CB (đường cong chọn lọc của CB). Đây là thông số rất quan trọng, quyết định cho việc chọn CB ở vị trí nào trong hệ thống điện.

– Mechanical/electrical endurace: Số lần đóng cắt cơ khí cho phép/ số lần đóng cắt điện cho phép.

Một số dòng sản phẩm Aptomat (MCB, MCCB) thông dụng trên thị trường:

MCB – Aptomat dạng tép Mitsubishi: (Cầu dao tự động dạng tép Mitsubishi)

 

Aptomat MCB Mitsubishi Nhật Bản

 

MCCB – Aptomat dạng khối Mitsubishi: (Cầu dao tự động dạng khối Mitsubishi)

 Aptomat dạng khối MCCB Mitsubishi Nhật Bản

 

MCB – Aptomat dạng tép LS: (Cầu dao tự động dạng tép LS)

 

 Thiết bị điện LS - Aptomat dạng tép MCB LS

 

MCCB – Aptomat khối LS: (Cầu dao tự động dạng khối LS)

Aptomat khối MCCB LS

 

ACTI9 MCB – Aptomat dạng tép Schneider: (Cầu dao tự động dạng tép Schneider) 

 Cầu dao tự động Acti9 MCB - Aptomat dạng tép

 

MCCB – Aptomat dạng khối Schneider: (Cầu dao tự động dạng khối Schneider)

 

 Thiết bị điện Schneider - Aptomat khối MCCB Schneider

Rơ le nhiệt là gì?

Rơ le nhiệt (hay còn gọi là Relay nhiệt) là một loại thiết bị điện dùng để bảo vệ động cơ và mạch điện khỏi bị quá tải, thường dùng kèm với contactor (khởi động từ). Rơ le nhiệt có chức năng tự động đóng cắt tiếp điểm nhờ sự co dãn vì nhiệt của các thanh kim loại.

Rơ le nhiệt (relay nhiệt) Schneider

Hình ảnh: Rơ le nhiệt Schneider

Ứng dụng của Rơ le nhiệt

Rơ le nhiệt được lắp cùng với Contactor (Khởi động từ) để bảo vệ các thiết bị điện đặc biệt là động cơ điện khi quá dòng, quá tải trong quá trình hoạt động.

Đặc điểm của Rơ le nhiệt là cần phải có một khoảng thời gian nhất định để tác động dựa trên cơ chế dãn nở vì nhiệt chứ không tác động nhanh (tức thời) như các thiết bị đóng cắt bằng cơ chế điện từ. Do đó rơ le nhiệt chỉ dùng để bảo vệ quá tải chứ không dùng bảo vệ ngắn mạch. Muốn bảo vệ ngắn mạch thì phải dùng kèm với cầu chảy.

Rơ le nhiệt hoạt động ở điện áp xoay chiều đến 500V, tần số 50Hz, có nhiều khoảng tác động từ vài trăm mA đến vài trăm A. Rơ le nhiệt của các hãng Mitsubishi, LS, Schneider có khoảng tác động từ 0.1A đến 800A.

Cấu tạo rơ le nhiệt

 

Cấu tạo Rơ le nhiệt (relay nhiệt)

Hình ảnh: Sơ đồ cấu tạo Rơ le nhiệt

Chú thích:

1. Đòn bẩy

2. Tiếp điểm thường đóng (NC)

3. Tiếp điểm thường mở (NO)

4. Vít chỉnh dòng điện tác động

5. Thanh lưỡng kim

6. Dây đốt nóng

7. Cần gạt

8. Nút phục hồi (Reset

Ví dụ: Cấu tạo rơ le nhiệt của hãng ABB

 

Cấu tạo rơ le nhiệt ABB (relay nhiệt ABB)

Hình ảnh: Rơ le nhiệt ABB

Rơ le nhiệt gồm có 1 tiếp điểm NC (tiếp điểm thường đóng) và 1 tiếp điểm NO (tiếp điểm thường mở).

– Tiếp điểm NC: khi quá tải tiếp điểm NC sẽ mở, tiếp điểm NC được mắc nối tiếp với mạch điều khiển (cuộn hút contactor).

– Tiếp điểm NO: khi quá tải tiếp điểm NO sẽ đóng, thường dùng để kết nối với đèn hay còi báo động khi có sự cố xảy ra.

Nguyên lý làm việc của rơ le nhiệt

Phần tử cơ bản của rơ le nhiệt là phiến kim loại kép (bimetal) cấu tạo từ hai tấm kim loại, một tấm hệ số giãn nở bé (thường dùng invar có 36% Ni, 64% Fe) một tấm hệ số giãn nở lớn (thường là đồng thau hay thép crôm – niken, như đồng thau giãn nở gấp 20 lần invar). Hai phiến ghép lại với nhau thành một tấm bằng phương pháp cán nóng hoặc hàn.

Khi đốt nóng do dòng điện, phiến kim loại kép uốn về phía kim loại có hệ số giãn nở nhỏ hơn, có thể dùng trực tiếp cho dòng điện qua hoặc dây điện trở bao quanh. Để độ uốn cong lớn yêu cầu phiến kim loại phải có chiều dài lớn và mỏng. Nếu cần lực đẩy mạnh thì chế tạo tấm phiến rộng, dày và ngắn.

Cách chọn rơ le nhiệt theo công suất động cơ

Bảng hướng dẫn chọn rơ le nhiệt (relay nhiệt) theo công suất động cơ

Hình ảnh: Bảng chọn rơ le nhiệt theo công suất động cơ

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều hãng sản xuất Rơ le nhiệt. Các dòng rơ le nhiệt cao cấp phải kể đến Schneider, ABB,…. Các dòng rơ le nhiệt phổ thông giá thấp hơn như Mitsubishi, LS, Hyundai,…

Rơ le nhiệt Schneider

 Rơ le nhiệt Schneider (relay nhiệt Schneider) 

 

Rơ le nhiệt Mitsubishi

Rơ le nhiệt Mitsubishi (relay nhiệt Mitsubishi)

 

Rơ le nhiệt LS

 

Rơ le nhiệt LS (relay nhiệt LS)

Aptomat chống giật còn có tên gọi khác là Át chống giật, CB chống giật, Aptomat chống dòng ròCầu dao chống dòng rò… Cũng tương tự như Aptomat thường, Aptomat chống giật có các loại sau:

– Aptomat chống giật dạng tép RCCB (Residual Current Circuit Breaker).

– Aptomat chống giật dạng tép có bảo vệ quá tải RCBO (Residual Circuit Breaker with Overcurrent protection).

– Aptomat chống giật dạng khối có bảo vệ quá tải ELCB (Earth Leakage Circuit Breaker).

 

Aptomat chống giật ELCB Schneider, Át chống giật, CB chống giật

Hình ảnh: Aptomat chống giật ELCB của hãng Schneider

 

Aptomat chống giật có chức năng ngắt điện khi có dòng điện rò xuống đất hay có người bị điện giật. Ngoài ra Aptomat chống giật ELCB, RCBO còn có chức năng bảo vệ quá tải tương tự như aptomat thường. Trong khi đó RCCB chỉ có chức năng chống dòng rò, cần phải kết hợp với MCB để bảo vệ quá tải. RCCB + MCB = RCBO.

Chức năng của Aptomat chống giật:

– Aptomat chống giật 1 pha: nó so sánh dòng điện chạy qua 2 dây mát và lửa, nếu dòng điện này khác nhau quá một ngưỡng rò nhất định thì nó sẽ ngắt điện khỏi tải, không cho tải làm việc nữa. Nhà sản xuất thường thiết kế các ngưỡng rò 15mA, 30mA, 100mA, 200mA, 300mA, 500mA.

– Aptomat chống giật 3 pha: nó so sánh dòng điện chạy qua 3 dây pha và dây trung tính, nếu dòng điện này khác nhau quá một ngưỡng rò nhất định thì nó ngắt.

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động:

Nguyên lý Aptomat chống giật, Át chống giật, CB chống giật

Hình ảnh: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của Aptomat chống giật 1 pha

 

– Aptomat chống giật dùng cho 1 pha: người ta cho 2 dây mát và lửa đi qua 1 biến dòng có lõi sắt hình xuyến, đây là 1 cái biến thế lõi xuyến thông thường với cuộn sơ cấp 1 vòng dây (chính là 2 dây mát và lửa đi qua tâm biến thế) và cuộn thứ cấp vài chục vòng dây, biến thế này bằng khoảng cái nhẫn cưới. Như chúng ta biết: dòng điện đi ra ở dây nóng về ở dây mát (và ngược lại: ra dây mát về dây nóng) là ngược chiều nhau, có nghĩa là từ trường biến thiên chúng sinh ra trong lõi sắt của biến dòng là ngược chiều nhau. Nếu 2 dòng điện này bằng nhau, 2 từ trường biến thiên sẽ triệt tiêu nhau làm điện áp ra của cuộn thứ cấp biến dòng = 0. Nếu điện áp qua 2 dây bị rò, dòng điện trên 2 dây khác nhau, hai từ trường biến thiên sinh ra trong lõi sắt khác nhau làm xuất hiện dòng điện cảm ứng trên cuộn thứ cấp của biến dòng, dòng điện này được đưa vào IC để kiểm tra xem có lớn hơn dòng rò an toàn không? Nếu lớn hơn ví dụ là 15mA thì IC sẽ cấp điện cho Triac cấp điện cho cuộn hút của Aptomat. Để phát hiện dòng rò lớn vài trăm mA thì không cần dùng đến IC (vì mạch điện IC phức tạp và chi phí cao) mà dùng ngay lực điện từ tạo ra khi có dòng điện chạy trong cuộn dây để đóng ngắt aptomat.  

– Aptomat chống giật dùng cho điện 3 pha 3 dây: tương tự như trên với 3 dây pha đi qua tâm biến dòng.

– Aptomat chống giật dùng cho điện 3 pha 4 dây: tương tự như trên với 3 dây pha và dây trung tính đi qua tâm biến dòng. 

 

Các thông số kỹ thuật của Aptomat chống giật:

Aptomat chống giật chia ra 2 loại cơ bản là loại chỉ có chức năng chống giật (RCCB) và loại có cả chức năng bảo vệ quá tải (RCBO, ELCB). Tùy theo từng loại có thể có đầy đủ hoặc một số thông số kỹ thuật như sau:

Thông số kỹ thuật Aptomat chống giật, CB chống giật

Hình ảnh: Thông số kỹ thuật Aptomat chống giật ELCB của hãng LS

 

– In: Dòng điện định mức. Ví dụ: Aptomat chống giật dạng khối của Mitsubishi NV125-SV 3P 100A 25kA 30mA có In = 100A. Khi dòng điện lớn hơn 100A aptomat sẽ tác động.

– Dòng rò: Aptomat chống giật thường được chế tạo dòng rò cố định ở mức 15mA, 30mA hoặc dòng rò điều chỉnh được các mức 100mA / 200mA / 300mA (có lẫy gạt để chọn mức dòng rò tưng ứng). Khi dòng điện rò vượt quá dòng rò như trên thì aptomat chống giật sẽ tác động.

– Ue: Điện áp làm việc định mức.

– Icu: Dòng cắt ngắn mạch là khả năng chịu đựng dòng điện lớn nhất của tiếp điểm trong 1 giây.

– Icw: Khả năng chịu dòng ngắn mạch trong 1 đơn vị thời gian.

– Ics: khả năng cắt thực tế khi xảy ra sự cố của thiết bị. Khả năng này phụ thuộc vào từng nhà sản xuất do công nghệ chế tạo khác nhau. Ví dụ cùng một hãng sản xuất nhưng có 2 loại ELCB là Ics = 50% Icu và Ics = 100% Icu. Aptomat chống giật EBN103c 3P 100A 18kA 100/200/500mA có Ics = 100%Icu.

– AT: Ampe Trip (dòng điện tác động).

– AF: Ampe Frame (dòng điện khung). Ví dụ NV250-SV 3P 200A 36kA 30mA và NV250-SV 3P 250A 36kA 30mA đều có AF = 250A nhưng một cái sẽ tác động khi dòng vượt quá AT = 200A, một cái sẽ tác động khi dòng vượt quá AT = 250A. Thông số AT/AF cho biết độ bền của tiếp điểm đóng cắt. Ví dụ Aptomat chống giật ELCB 250AT/400AF sẽ có độ bền cao hơn Aptomat 250AT/250AF, kích thước aptomat chống giật 400AF cũng lớn hơn, giá thành cao hơn.

– Mechanical/electrical endurace: Số lần đóng cắt cơ khí cho phép/ số lần đóng cắt điện cho phép.

 

Đặc điểm hình dáng:

 

Aptomat chống giật RCCB Mitsubishi, Át chống giật, CB chống giật

Hình ảnh: Aptomat chống giật RCCB, RCBO của hãng Mitsubishi

 

Aptomat chống giật có hình dáng giống át thường nhưng kích thước bằng hoặc to hơn 1 chút.

Ngoài nút gạt ON-OFF, aptomat chống giật còn có thêm 1 nút TEST bên cạnh để kiểm tra xem Aptomat có làm việc tốt không.

Trên mặt aptomat chống giật có ghi các thông số: điện áp, dòng tải, thời gian tác động và dòng rò. Thông thường có các ngưỡng dòng rò 15mA, 30mA, 100mA, 200mA, 300mA, 500mA.

 

Hướng dẫn chọn Aptomat chống giật:

Khi lựa chọn Aptomat chống giật cần lưu ý một số vấn đề sau để tránh chọn nhầm không thể sử dụng được:

– Chọn loại aptomat: Aptomat chống giật có chức năng bảo vệ quá tải (RCBO, ELCB) có thể dùng thay thế aptomat thường nhưng vì cấu tạo phức tạp hơn nên loại này thường có dòng cắt ngắn mạch thấp. Sử dụng RCBO, ELCB sau aptomat thường sẽ bảo vệ hệ thống điện tốt hơn. Đối với Aptomat chỉ có chức năng chống giật (RCCB) bắt buộc phải lắp sau aptomat thường.

– Chọn số pha / số cực: Sai lầm thường thấy nhất là chọn Aptomat chống giật 3 pha (3 cực) lắp cho hệ thống 3 pha tải hỗn hợp (tải 1 pha, 3 pha, sử dụng trung tính) dẫn tới át chống giật bị nhảy. Đối với tải 3 pha hỗn hợp phải sử dụng Át chống giật 4 pha (hay còn gọi là 3 pha 4 cực, 3P + N). Đối với điện 1 pha (1 dây pha + 1 dây trung tính) phải sử dụng aptomat 2 pha (1 pha 2 cực, 1P + N). Át chống giật 3 pha 3 cực chỉ dùng được cho tải 3 pha 3 dây không có trung tính như động cơ 3 pha đấu kiểu tam giác.

– Chọn dòng định mức: Đối với RCBO, ELCB chọn dòng định mức căn cứ vào công suất sử dụng tương tự như chọn Át thường. Đối với át chống giật không bảo vệ quá tải RCCB thì chọn dòng định mức bằng hoặc lớn hơn dòng định mức át thường lắp cùng RCCB.

– Chọn dòng rò: Át chống giật thường có 3 loại theo dòng rò 15mA, 30mA, 100/200/300mA. Thông thường các hệ thống nhỏ, các khu vực dân dụng dùng át chống rò 30mA. Các khu vực sản xuất công suất lớn thường dùng át chống rò 100/200/300mA.

 

Các lưu ý khi sử dụng:

Không dùng ở nơi ẩm ướt, lắp aptomat chống giật cho bình nước nóng thì nên đặt ở ngoài nhà tắm.

Phải test trước khi dùng. Test ít nhất 1 lần /tháng để kiểm tra thiết bị còn hoạt động tốt không?

Khi mắc aptomat chống giật, phía trên aptomat là điện vào, phía dưới là điện áp ra tải, nếu đấu ngược sẽ chết aptomat ngay khi có dòng.

 

Các thương hiệu nổi tiếng phổ biến trên thị trường:

Aptomat chống giật là thiết bị quan trọng trong các hệ thống điện tuy nhiên do chế tạo phức tạp nên giá thành cao hơn Aptomat thường gấp vài lần. Do đó nó không được sử dụng phổ biến bằng Aptomat thường. Nhà sản xuất cũng không chế tạo nhiều mã sản phẩm đa dạng như Aptomat thường.

Trên thị trường hiện nay có nhiều hãng sản xuất Aptomat chống giật dùng cho điện 1 pha và 3 pha như:

 

Aptomat chống giật dạng tép RCCB Mitsubishi:

Aptomat chống giật RCCB Mitsubishi, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng tép có bảo vệ quá tải RCBO Mitsubishi:

Aptomat chống giật RCBO Mitsubishi, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng khối ELCB Mitsubishi:

Aptomat chống giật ELCB Mitsubishi, Át chống giật, CB chống giật

Aptomat chống giật dạng tép RCCB Schneider:

Aptomat chống giật RCCB Schneider, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng tép có bảo vệ quá tải RCBO Schneider:

Aptomat chống giật RCBO Schneider, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng khối ELCB Schneider:

Aptomat chống giật ELCB Schneider, Át chống giật, CB chống giật

Aptomat chống giật dạng tép RCCB LS:

Aptomat chống giật RCCB LS, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng tép có bảo vệ quá tải RCBO LS:

Aptomat chống giật RCBO LS, Át chống giật, CB chống giật

 

Aptomat chống giật dạng khối ELCB LS:

Aptomat chống giật ELCB LS, Át chống giật, CB chống giật

 

 

Những lưu ý khi lắp CB chống giật (RCBO)

Các thiết bị và đường dây dẫn điện khi bị rò rỉ thì sẽ dẫn đến tình trạng tổn thất điện năng vô ích, gây hư hỏng thiết bị và nguy hiểm đến tính mạng con người.

Để hạn chế những nhược điểm trên, người ta đã sản xuất ra cầu dao ngắt điện tự động (CB). Khi có một dòng điện rò rỉ thì mạch điện chạy qua cầu dao (CB) không còn được cân bằng. Bộ so sánh sẽ phát hiện ra và cấp điện cho cuộn dây điện từ, tạo ra lực từ để kéo một miếng kim loại có gắn thanh liên động đến chốt gài cần gạt đóng mở điện, CB sẽ ngắt điện ra khỏi phụ tải.

 

Mạch điện tử bên trong CB chống điện giật thường là 1 hoặc 2 IC khuyếch đại thuật toán (operational amplifier) và vài linh kiện ngoại vi, tạo thành một mạch bảo vệ. Nếu trong hộ gia đình chưa có lắp một CB bảo vệ thông thường thì bạn nên mua CB chống giật có kèm chức năng chống quá dòng, ngắn mạch. Ngược lại đã có gắn thì chúng ta chỉ cần mua thêm loại chống giật không có chức năng bảo vệ quá dòng, giá tiền sẽ rẻ hơn được từ 100.000 đồng trở lên.

 

Trong quá trình sử dụng, chúng ta nên kiểm tra chức năng bảo vệ ít nhất mỗi tháng một lần bằng cách ấn nút TEST có trên thân CB. Cần phải làm như vậy vì có khi mạch điện tử bên trong bị hư, chúng ta phải thay cái khác hoặc sửa chữa lại. Có không ít trường hợp do sử dụng ở vùng có độ ẩm cao, thanh liên động để mở chốt gài bị rỉ sét, không dịch chuyển để ngắt điện được mặc dù mạch điện tử còn tốt.

 

Vị trí nút test trên CB chống giật RCBO của các hãng Fuji Electric, Mitsubishi Electric, Shihlin

 

Không nên chủ quan đã có lắp CB chống điện giật trong gia đình mà sử dụng một cách cẩu thả những thiết bị điện. Thực ra cầu dao (CB) chỉ ngắt điện hoàn toàn khi ta chạm vào dây nóng (hot line) và phần còn lại của cơ thể đang tiếp đất. Nhiều người mặc dù đã đứng trên ghế gỗ, không tiếp xúc với đất nhưng vẫn bị điện giật do lúc thao tác sửa chữa, vô tình chạm vào 2 dây nóng và nguội của bảng điện, song CB chống giật vẫn không ngắt điện.

 

Khi thiết bị hoặc đường dây có sự cố rò rỉ thì CB sẽ ngắt. Lúc đó chúng ta không nên nóng vội mà chuyển contact chọn dòng rò về vị trí OFF (với loại điều chỉnh được nhiều cấp dòng rò). Cần xem xét kỹ phần nào bị rò điện và phải đặt việc sửa chữa lại chỗ đó lên ưu tiên hàng đầu, không nên vô hiệu hóa chức năng chống điện giật của CB trong một thời gian quá lâu.

Nguồn Báo NLĐ.

Các thiết bị và đường dây dẫn điện khi bị rò rỉ thì sẽ dẫn đến tình trạng tổn thất điện năng vô ích, gây hư hỏng thiết bị và nguy hiểm đến tính mạng con người. Để hạn chế những nhược điểm trên, người ta đã sản xuất ra cầu dao ngắt điện tự động (CB).

Công tắc điện được xem như là một thiết bị không thể thiếu trong mọi hệ thống điện. Nó có nhiệm vụ đóng mở mạch điện cho các thiết bị khác hoạt động. Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, chúng ta ngày nay đã được chiêm ngưỡng và sử dụng loại công tắc điện cảm ứng với những tính năng nổi bật. Bạn có thể thấy loại thiết bị này xuất hiện nhiều nhất ở những tòa nhà thông minh.

Cùng dienhathe tìm hiểu công nghệ xung nguồn một trong những công nghệ nổi bật xuất hiện trên các thiết bị công tắc điện cảm ứng làm nên điểm nổi bật và thu hút cho mẫu sản phẩm này nhé!

Công nghệ nguồn xung là gì?

Nguồn xung là bộ nguồn biến đổi điện áp DC – DC hoặc AC – DC dựa trên nguyên lý đóng, mở các van bán dẫn với thế mạnh là khả năng cho hiệu suất đầu ra cao, tổn hao thấp, ổn định được dòng điện và ko gian thiết kế nhỏ gọn.

Công nghệ nguồn xung với biến đổi DC – DC được chia làm 2 nhóm: nhóm cách ly và nhóm không cách ly. Nguồn xung cách lý có năng lực chế tạo công suất lớn, tuy nhiên nhược điểm lớn nhất là vất vả thiết lập các biến áp xung. Ngoài ra, việc điều khiển bộ biến đổi này cũng tương đối phức tạp với khách hàng thông thường. Nhóm nguồn xung không cách ly tạo ra công suất nhỏ hơn. Tuy nhiên, dễ thiết lập, điều khiển và cực kỳ giản đơn khi mô hình hóa.

Tùy vào yêu cầu công suất hệ thống điện, từ ấy, các kỹ sư sẽ luôn có những giải pháp cụ thể cho từng căn nhà, từng chiếc công tắc điện thông minh giúp tăng hiệu quả sử dụng và an toàn.

Tác dụng của kỹ thuật nguồn xung lên thiết bị công tắc điện cảm ứng ?

1- Hệ thống điện thông minh được cam kết ổn định: Do năng lực chuyển hóa điện 1 chiều, nguồn xung sẽ giúp hệ thống điện ổn định và an toàn hơn với các thiết bị khác, công tắc điện cảm ứng sẽ luôn an toàn hơn với khách hàng.

2- Dễ thiết lập và lắp đặt: lúc thi công nhà thông minh, gia chủ có 1 câu hỏi rất lớn: Liệu rằng việc thi công có làm hủy hoại đi cấu trúc nguyên vẹn của ngôi nhà họ đã xây dựng lên ? đối với phương hướng từ công nghệ nguồn xung, người tiêu dùng không phải đục hay phá hủy hệ thống điện sẵn có mà hoàn toàn vẫn cũng có thể can thiệp gián tiếp.

3- An toàn hơn với người dùng: công nghệ nguồn xung chuyển hóa điện về một chiều luôn giúp khách hàng an toàn hơn so với điện xoay chiều.

4- khả năng sửa chữa thay thế: thiết lập đối với cấu cung cấp công tắc cảm ứng rất giản đơn với kỹ thuật nguồn xung, khách hàng dễ dàng sửa, thay lúc cần thiết.

Một trong những cách để bảo quản thiết bị điện của bạn để sử dụng được lâu dài và hiệu quả thì đó chính là việc vệ sinh chúng sao cho hợp lý và đúng kỹ thuật. Thiết bị điện phòng khách phòng ngủ là những thiết bị đòi hỏi bạn phải thực hiện việc này thường xuyên để mang lại thẩm mỹ trong nhà, và tránh những thiết bị này gặp vấn đề trong quá trình sử dụng. Dưới đây là những cách đơn giản mà chúng tôi muốn gửi đến các bạn.

Công việc này tuy không khó nhưng không phải ai trong số chúng ta cũng biết bởi vì vệ sinh theo nghĩa thông thường là quét dọn, lau chùi, sắp xếp gọn gàng, nhưng như thế là chưa đủ. Nếu bạn muốn gian phòng của mình sạch sẽ để bạn luôn có bầu không khí tươi mới, không ô nhiễm, tốt cho sức khỏe của cả gia đình mình thì hãy tham khảo một vài cách mà chúng tôi đưa ra dưới đây để làm sạch các thiết bị điện, điện tử mà bạn sử dụng hàng ngày.

1. Vệ sinh các thiết bị điện chiếu sáng

Đèn là thiết bị điện phòng khách và phòng ngủ. Bạn sẽ thấy càng loại đèn chùm trang trí với kết cấu phức tạp sẽ là nơi hứng bụi nhiều nhất. Bạn hãy dùng bóng cao su thổi khí để làm sạch các ngóc ngách. Với các bề mặt dễ lau, bạn hãy dùng bàn chải lông mềm, kết hợp giẻ sạch để lau bụi. Một vài vết bẩn cứng đầu do bụi lưu cữu quá lâu kết hợp độ ẩm khiến chúng kết lại, bạn đừng lo, một miếng vải mềm tẩm chút xăng (hoặc kem đánh bóng can na) là có thể đánh bay. Lưu ý đặc biệt là nên ngắt điện trước khi làm bạn nhé.

2. Vệ sinh các thiết bị điện lạnh

Điều hòa là thiết bị phổ biến, theo khuyến cáo nhà sản xuất thì bạn nên tháo tấm lọc bụi để vệ sinh thường xuyên. Nếu bạn quá bận bịu, cố gắng 1 tháng 1 lần, việc tháo ra rất đơn giản, sau đó bạn có thể dùng vòi xịt ở bồn cầu để xịt bay bụi bẩn kết hợp bàn chải đánh sạch. Bạn cũng dùng khăn mềm lau sạch bên ngoài. Mỗi năm ít nhất bạn cần gọi thợ để bảo dưỡng và vệ sinh tổng thể điều hòa 1 lần, nó sẽ luôn làm cho tuổi thọ máy lạnh nâng cao và tiết kiệm năng lượng nữa.

3. Vệ sinh quạt

Ngày nay có rất nhiều các loại quạt khác nhau, từ quạt cánh truyền thống, đến quạt không cánh, quạt hơi nước và cả quạt kết hợp đèn trang trí. Nguyên tắc chung bạn cần tháo lồng bảo vệ, tháo cánh rồi vệ sinh lần lượt. Bạn cũng nên nhỏ thêm vài giọt dầu nhờn vào bộ phận chuyển động, nó thực sự hữu ích. Với các loại quạt hơi nước bạn cần tháo bình chứa nước , nếu có thể bạn cũng cần tháo cả ống dẫn nước để vệ sinh quạt điện sạch sẽ, nó sẽ khiến hơi mát không có mùi hôi và không khí luôn sạch sẽ.

Với quạt trần bạn hãy lau sạch bụi bám trên cánh và vệ sinh đèn chùm (nếu có) như trên. Việc tháo lắp vệ sinh quạt trần thường khó khăn và phức tạp hơn bình thường, tuy nhiên bạn nên đọc thêm hướng dẫn sử dụng bảo quản của nhà sản xuất hoặc nếu cần nên thuê thợ điện để bảo đảm án toàn và đúng cách.

Đôi khi phòng ngủ trang bị quạt thông gió, bạn hãy tháo khung quạt vệ sinh bằng bàn chải và nước, cánh quạt bạn hãy dùng khăn ẩm để lau bụi.

4. Vệ sinh thiết bị điện tử

Thiết bị điện tử có khá nhiều ở cả phòng khách và phòng ngủ. Bạn sẽ có tivi, máy tính, ipad, loa và âm ly,… Bạn yên tâm bởi nó không khó để làm sạch, bạn hãy làm theo cách của chúng tôi:

– Tivi: Bạn chỉ cần có một bộ dụng cụ vệ sinh màn hình gồm: nước xịt, khăn mềm, bóng xịt khí và chổi. Hãy xịt nước vệ sinh vào khăn rồi lau nhẹ nhàng màn hình. Với vỏ bạn lau sạch bằng khăn mềm.

– Máy tính, Ipad: Bạn làm như với tivi để vệ sinh màn hình. Nếu bạn có hiểu biết về kỹ thuật bạn hãy tháo vỏ CPU và làm sạch quạt gió, nó sẽ làm tăng tuổi thọ cho Chip máy tính. Còn bàn phím thì sao, hãy dùng chổi và bóng xịt khí để làm sạch các khe bàn phím, cuối cùng một chiếc khăn mềm là rất hữu ích để lau lại toàn bộ tổng thể.

– Loa và âm ly: Bóng xịt, chổi là dụng cụ nên dùng để làm sạch các khe và hốc. Với loa thùng, bạn cũng có thể tháo vỏ ra rồi lau chùi nhẹ nhàng bên trong, lưu ý hết sức cẩn thận để tránh làm ảnh hưởng đến màng loa nhé.

Chúng tôi tin rằng, bạn làm đúng cách, phòng khách, phòng ngủ nhà mình không chỉ sạch, đẹp mà còn giữ gìn sức khỏe rất tốt cho gia đình mình nữa.

Những thiết bị điện kém chất lượng là một trong những nguyên nhân gây ra những vụ tai nạn thương tâm cho con người khoản thời gian gần đây. Vì vậy, sử dụng thiết bị điện đã qua kiểm định để phòng tránh được cái tai nạn là điều mà các kỹ sư khuyến khích người dùng hiện nay.

 Sự cố xuất phát từ các thiết bị điện chiếm một tỷ lệ lớn trong các nguyên nhân gây cháy nổ, rò rỉ điện làm nguy hiểm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân. . Muốn đẩy lùi nguy cơ này, bên cạnh sự vào cuộc của lực lượng chức năng trong tuyên truyền, kiểm tra, tăng cường quy định về kiểm định kỹ thuật an toàn các thiết bị, dụng cụ điện, thì chính người dân phải nâng cao ý thức cảnh giác, sử dụng thiết bị điện an toàn.

Bạn có biết trên thị trường hiện nay đang tồn tại rất nhiều loại thiết bị, dụng cụ điện khác nhau, trong đó có vô vàn các loại thiết bị, dụng cụ điện không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện an toàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ trôi, nổi trên thị trường. Thoạt nhìn thì các loại thiết bị này không có gì đặc biệt, nó có hình dạng giống với các loại thiết bị điện thông thường khác, nhưng khi sử dụng rất dễ gây điện giật, hỏa hoạn nguy hiểm cho người sử dụng.

Minh chứng rõ nét nhất là hằng năm số vụ cháy với nguyên nhân do sự cố điện luôn cao, trên 60%, trong đó sự cố từ các vật dụng sử dụng điện chiếm gần hai phần ba. Sở dĩ các vật dụng gia đình dễ phát sinh cháy phần lớn do khi không sử dụng, người dùng quên ngắt điện, thiết bị hoạt động liên tục trong thời gian dài sinh nhiệt hoặc gặp sự cố điện gây cháy. Bên cạnh đó là các yếu tố như vật dụng cũ kỹ đã sử dụng nhiều năm, tận dụng các đồ vật đã hư hỏng sửa chữa lại; vật dụng không đảm bảo chất lượng do mua tại các cửa hàng không có bảo hành, không rõ xuất xứ; phích cắm tiếp xúc kém với ổ cắm; dây dẫn kém chất lượng, mối nối dây lỏng lẻo, dây bị gấp khúc, đè nén, bong hở vỏ bọc…; cầu dao tự động không tự ngắt khi có sự cố…

Thực trạng này thực sự đáng báo động, chúng ta cần nhận thức và hành động rõ ràng hơn để tự cứu lấy bản thân mình trong việc thực hiện tốt các nội quy an toàn điện, sử dụng những thiết bị điện đã qua kiểm tra chất lượng loại bỏ những nguy cơ gây chạm, chập, cháy nổ nhằm tránh các sự cố đáng tiếc có thể xảy ra. Tốt nhất người dùng nên chọn mua sản phẩm có nhãn mác, thương hiệu, nguồn gốc rõ ràng, nơi bán uy tín, thiết bị, dụng cụ điện đã được kiểm định kỹ thuật an toàn, sẽ giảm bớt nguy cơ cháy nổ hoặc các tai nạn khác. Đồng thời, nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thiết bị, để chúng xa các nơi có nguồn nhiệt cao, tránh va đập mạnh… và nếu có dấu hiệu hư hỏng, tốt nhất là nên loại bỏ. Vì sự an toàn của bản thân, gia đình và xã hội hãy nói không với tất cả các thiết bị, dụng cụ điện không được kiểm định an toàn.

Đối với các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng, vận hành, kinh doanh các thiết bị, dụng cụ điện kiểm định kỹ thuật an toàn thiết bị điện là quy định bắt buộc. Kiểm định không những đảm bảo an toàn cho người sử dụng, phòng tránh cháy nổ và tai nạn lao động khác mà còn giúp tổ chức, doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và thương hiệu, đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Nhà nước, giảm thiểu các chi phí liên quan.

Việc kiểm định các thiết bị, dụng cụ điện được thực hiện bởi tổ chức kiểm định đáp ứng yêu cầu quy định tại văn bản quy phạm pháp luật.

Với việc đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng điện thì lựa chọn những thiết bị điện đã qua kiểm định  sẽ là một sự lựa chọn sáng suốt để bạn có thể yên tâm. Các bạn nên chọn những thiết bị từ những cơ sở có uy tính cùng với tem kiểm định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi cho mình.

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của MCB / MCCB

MCB hay MCCB ( hay còn được biết đến với tên gọi Aptomat ) là khí cụ điện dùng để đóng ngắt mạch điện ( 1 pha, 2 pha, 3 pha ) có công dụng bảo vệ quá tải, ngắn mạch, sụt áp, … của mạch điện khi có sự cố xảy ra.

Các dòng MCCB phổ biến hiện nay của hãng Mitsubishi , Fuji , LS

I. Cấu tạo của MCB / MCCB ( Aptomat )

1) Tiếp điểm

CB thường được chế tạo có hai cấp tiếp điểm (tiếp điểm chính và hồ quang), hoặc ba cấp tiếp điểm ( chính, phụ, hồ quang ).

Khi đóng mạch, tiếp điểm hồ quang đóng trước, tiếp theo là tiếp điểm phụ, sau cùng là tiếp điểm chính. Khi cắt mạch thì ngược lại, tiếp điểm chính mở trước, sau đến tiếp điểm phụ, cuối cùng là tiếp điểm hồ quang. Như vậy hồ quang chỉ cháy trên tiếp điểm điểm hồ quang, do đó bảo vệ được tiếp điểm chính để dẫn điện. Dùng thêm tiếp điểm phụ để tránh hồ quang cháy lan vào làm hư hại tiếp điểm chính.

2) Hộp dập hồ quang

Để CB dập được hồ quang trong tất cả các chế độ làm việc của lưới điện, người ta thường dùng hai kiểu thiết bị dập hồ quang là: Kiểu nửa kín và kiểu hở.

Kiểu nửa kín được đặt trong vỏ kín của CB và có lỗ thoát khí. Kiểu này có dòng điện giới hạn cắt không quá 50KA. Kiểu hở được dùng khi giới hạn dòng điện cắt lớn hơn 50KA hoặc điện áp lớn 1000V (cao áp).

Trong buồng dập hồ quang thông dụng, người ta dùng những tấm thép xếp thành lưới ngăn, để phân chia hồ quang thành nhiều đoạn ngắn thuận lợi cho việc dập tắt hồ quang.

3) Cơ cấu truyền động cắt CB

Truyền động cắt thường có hai cách: Bằng tay và bằng cơ điện (điện từ, động cơ điện).

Điều kiển bằng tay được thực hiện với các CB có dòng điện định mức không lớn hơn 600A. Điều khiển bằng điện từ (nam châm điện) được ứng dụng ở các CB có dòng điện lớn hơn (đến 1000A).

Để tăng lực điều khiển bằng tay người ta dùng một tay dài phụ theo nguyên lý đòn bẩy. Ngoài ra còn có cách điều khiển bằng động cơ điện hoặc bằng khí nén.

4) Móc bảo vệ

CB tự động cắt nhờ các phần tử bảo vệ – gọi là móc bảo vệ, sẽ tác động khi mạch điện có sự cố quá dòng điện (quá tải hay ngắn mạch) và sụt áp.

Móc bảo vệ quá dòng điện (còn gọi là bảo vệ dòng điện cực đại) để bảo vệ thiết bị điện khong bị quá tải và ngắn mạch, đường thời gian – dòng điện của móc bảo vệ phải nằm dưới đường đặc tính của đối tượng cần bảo vệ. Người ta thường dùng hệ thống điện tử và rơle nhiệt làm móc bảo vệ, đặt bên trong CB.

Móc kiểu điện từ có cuộn dây mắc nối tiếp với mạch chính, cuộn dây này được quấn tiết diện lớn chịu dòng tải và ít vòng. Khi dòng điện vượt quá trị số cho phứp thì phần ứng bị hút và nóc sẽ dập vào khớp rơi tự do, làm tiếp điểm của CB mở ra. Điều chỉnh vít để thay đôi lực kháng lò xo, ta có thể điều chỉnh được trị số dòng điện tức động. Để giữ thời gian trong bảo vệ quá tải kiểu điện từ, người ta thêm một cơ cấu giữ thời gian.

Móc kiểu rơle nhiệt đơn giản hơn cả, có kết cấu tương tự như rơle nhiệt có phần tử phát nóng đấu nối tiếp với mạch điện chính, tấm kim loại kép dãn nở làm nhả khớp rơi tự do để mở tiếp điểm của CB khi có quá tải. Kiểu này có nhược điểm là quán tính nhiệt lớn nên không ngắt nhanh được dòng điện tăng vọt khi có ngắn mạch, do đó chỉ bảo vệ được dòng điện quá tải.

Vì vậy người ta thường sử dụng tổng hợp cả móc kiểu điện từ và móc kiểu rơle nhiệt trong một CB. Loại này được dung ở CB có dòng điện đính mức đến 600A.

Móc bảo vệ sụt áp (còn gọi là bảo vệ điện áp thấp) cũng thường dùng kiểu điện từ. Cuộn dây mắc song song với mnạch điện chính, cuộn dây này được quấn ít vòng với dây tiết diện nhỏ chịu điện áp nguồn.

 

II. Nguyên lý hoạt động của MCB / MCCB ( Aptomat )

1. Nguyên lý CB dòng điện cực đại

Ở trạng thái bình thường sau khi đóng điện, CB được giữ ở trạng thái đóng tiếp điểm nhờ móc 2 khớp với móc 3 cùng một cụm với tiếp điểm động.

Aptomat và ứng dụng trong bảo vệ điện.

Bật CB ở trạng thái ON, với dòng điện định mức nam châm điện 5 và phần ứng 4 không hút .

Khi mạch điện quá tải hay ngắn mạch, lực hút điện từ ở nam châm điện 5 lớn hơn lực lò xo 6 làm cho nam châm điện 5 sẽ hút phần ứng 4 xuống làm bật nhả móc 3, móc 5 được thả tự do, lò xo 1 được thả lỏng, kết quả các tiếp điểm của CB được mở ra, mạch điện bị ngắt.

Sơ đồ CB dòng diện cực đại

2. Nguyên lý CB điện áp thấp

Bật CB ở trạng thái ON, với điện áp định mức nam châm điện 11 và phần ứng 10 hút lại với nhau.

Sơ đồ CB điện áp thấp

Khi sụt áp quá mức, nam châm điện 11 sẽ nhả phần ứng 10, lò xo 9 kéo móc 8 bật lên, móc 7 thả tự do, thả lỏng, lò xo 1 được thả lỏng, kết quả các tiếp điểm của CB được mở ra, mạch điện bị ngắt.

III. Phân biệt MCB và MCCB

– MCCB (Moulded case circuit breakers) : Áp tô mát kiểu khối. Đây là dạng CB tiêu chuẩn chủ yếu dùng trong công nghiệp, mạch động lực.

– MCB (Miniature Circuit Breaker) : Áp tô mát loại nhỏ. Đây là dạng CB thu gọn (mini) chủ yếu dùng trong gia dụng, mạch điều khiển.

Có nhiều nguyên cứu về việc phân biệt giữa MCB và MCCB. Tuy nhiên về khía cạnh dân dụng, kinh tế người ta phân biệt hai loại này dựa vào các yếu tố sau:

– MCB: dòng điện không vượt quá 100A, điện áp dưới 1.000V

– MCCB: dòng điện có thể lên tới 1.000A, điện áp dưới 1.000V

So sánh giữa MCB MitsubishiMCCB Mitsubishi

Nguồn sưu tầm

Giới thiệu :

Ngành công nghiệp điện bao gồm việc sản xuất, truyền tải, phân phối và bán điện cho công chúng và công nghiệp. Phân phối thương mại điện năng bắt đầu vào năm 1882 khi điện được sản xuất để chiếu sáng bằng điện. Trong những năm 1880 và 1890, các mối quan tâm về kinh tế và an toàn ngày càng tăng dẫn đến sự điều tiết của ngành. Một khi một sự mới lạ đắt tiền giới hạn ở các khu vực đông dân cư nhất, điện năng đáng tin cậy và kinh tế đã trở thành một khía cạnh thiết yếu cho hoạt động bình thường của tất cả các yếu tố của nền kinh tế phát triển.

Vào giữa thế kỷ 20, điện được xem là “độc quyền tự nhiên”, chỉ hiệu quả nếu một số lượng hạn chế các tổ chức tham gia vào thị trường; ở một số khu vực, các công ty tích hợp theo chiều dọc cung cấp tất cả các giai đoạn từ thế hệ này sang bán lẻ và chỉ có sự giám sát của chính phủ quy định tỷ lệ hoàn vốn và cơ cấu chi phí.

Từ những năm 1990, nhiều khu vực đã mở ra thế hệ và phân phối điện để cung cấp một thị trường điện cạnh tranh hơn. Trong khi các thị trường như vậy có thể bị thao túng một cách lạm dụng với giá bất lợi và độ tin cậy do người tiêu dùng gây ra, thì việc sản xuất điện năng cạnh tranh nói chung dẫn đến những cải tiến đáng kể về hiệu quả. Tuy nhiên, việc truyền tải và phân phối là những vấn đề khó khăn hơn vì lợi tức đầu tư không dễ tìm.

Các công ty điện lực lớn nhất thế giới và tổng tài sản của họ (thường bao gồm khí thiên nhiên) :

Tên các công ty

Tổng

(Tỷ USD)

 Enel

154

 Engie

152

 EDF

130

 E.ON

128

 RWE

122

 PLN

81

 Hydro-Québec

75

 Tokyo Electric Power Company (TEPCO)

47

 Scottish & Southern Energy

45

 Centrica

43

 State Grid Corporation of China

42

 Iberdrola

41

 EGAT

28

 Duke Energy

25

 

Lịch sử :

Mặc dù điện đã được biết là được tạo ra như là kết quả của các phản ứng hóa học diễn ra trong một tế bào điện phân vì Alessandro Volta đã phát triển đống điện từ vào năm 1800, sản xuất của nó bằng phương tiện này, và vẫn còn đắt tiền. Năm 1831, Michael Faraday nghĩ ra một cỗ máy tạo ra điện từ chuyển động quay, nhưng phải mất gần 50 năm để công nghệ đạt được một giai đoạn thương mại khả thi. Năm 1878, ở Mỹ, Thomas Edison đã phát triển và bán một sự thay thế khả thi về mặt thương mại đối với ánh sáng và sưởi ấm bằng khí đốt sử dụng nguồn điện trực tiếp được tạo ra và phân phối cục bộ.

Nguồn cung cấp điện công cộng đầu tiên trên thế giới được cung cấp vào cuối năm 1881, khi các con phố của thị trấn Godalming ở Surrey ở Anh được thắp sáng bằng đèn điện. Hệ thống này được cung cấp từ một bánh xe nước trên sông Wey, đã thúc đẩy một máy phát điện Siemens cung cấp một số đèn hồ quang trong thị trấn. Đề án cung cấp này cũng cung cấp điện cho một số cửa hàng và cơ sở để thắp sáng 34 bóng đèn Swan sáng chói.

Ngoài ra, Robert Hammond, vào tháng 12 năm 1881, đã chứng minh ánh sáng điện mới ở thị trấn Sussex của Brighton ở Anh trong một thời gian thử nghiệm. Sự thành công tiếp theo của việc cài đặt này cho phép ông đặt liên doanh này vào cả một nền tảng thương mại và pháp lý, vì một số chủ cửa hàng muốn sử dụng ánh sáng điện mới. Do đó, Công ty cung cấp điện Hammond đã được tung ra thị trường. Trong khi Chương trình Cầu cạn Godalming và Holborn đóng cửa sau một vài năm. Chương trình Brighton tiếp tục, và việc cung cấp vào năm 1887 được cung cấp trong 24 giờ mỗi ngày.

Vào đầu năm 1882, Edison đã mở trạm phát điện chạy bằng hơi nước đầu tiên trên thế giới tại Holborn Viaduct ở London, nơi ông đã ký một thỏa thuận với Tổng công ty Thành phố trong thời gian ba tháng để cung cấp ánh sáng đường phố. Trong thời gian, ông đã cung cấp một số người tiêu dùng địa phương với ánh sáng điện. Phương pháp cung cấp là dòng điện trực tiếp (DC).

Sau đó vào tháng 9 năm 1882, Edison mở trạm điện Pearl Street ở thành phố New York và một lần nữa nó là nguồn cung cấp DC. Chính vì lý do này mà thế hệ đã gần hoặc trên cơ sở của người tiêu dùng vì Edison không có phương tiện chuyển đổi điện áp. Điện áp được chọn cho bất kỳ hệ thống điện nào là một sự thỏa hiệp. Đối với một lượng điện nhất định được truyền đi, tăng điện áp làm giảm dòng điện và do đó làm giảm độ dày dây cần thiết. Thật không may nó cũng làm tăng nguy cơ tiếp xúc trực tiếp và làm tăng độ dày cách nhiệt yêu cầu. Hơn nữa, một số loại tải rất khó hoặc không thể làm việc với điện áp cao hơn. Hiệu quả tổng thể là hệ thống của Edison yêu cầu các nhà máy điện phải nằm trong vòng một dặm của người tiêu dùng. Trong khi điều này có thể làm việc ở các trung tâm thành phố, nó sẽ không thể cung cấp kinh tế vùng ngoại ô với quyền lực.

Giữa những năm 1880 đã chứng kiến ​​sự ra đời của các hệ thống xoay chiều (AC) ở châu Âu và AC của Mỹ có lợi thế trong các máy biến thếlắp đặt tại các trạm điện, có thể được sử dụng để tăng điện áp từ máy phát điện. có thể giảm điện áp để cung cấp tải. Tăng điện áp làm giảm dòng điện trong đường dây truyền tải và phân phối và do đó kích thước của dây dẫn và tổn thất phân phối. Điều này làm cho việc phân phối năng lượng trên một khoảng cách dài trở nên kinh tế hơn. Máy phát điện (chẳng hạn như các trang web thủy điện) có thể được đặt xa tải. AC và DC đã cạnh tranh trong một thời gian, trong một thời kỳ gọi là Chiến tranh Dòng. Hệ thống DC đã có thể yêu cầu an toàn hơn một chút, nhưng sự khác biệt này không đủ lớn để áp đảo những lợi thế kỹ thuật và kinh tế to lớn của dòng điện xoay chiều mà cuối cùng đã thắng.

Tổ chức :

Công nhgiệp điện thường được chia thành bốn quy trình. Đây là các công trình phát điện như nhà máy điện, truyền tải điện, phân phối điện và bán lẻ điện. Ở nhiều quốc gia, các công ty điện lực sở hữu toàn bộ cơ sở hạ tầng từ các trạm phát tới cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối. Vì lý do này, năng lượng điện được xem là độc quyền tự nhiên. Ngành công nghiệp điện thường được quản lý chặt chẽ, thường có kiểm soát giá và thường xuyên thuộc sở hữu nhà nước và hoạt động. Tuy nhiên, xu hướng hiện đại đã và đang gia tăng bãi bỏ quy định trong ít nhất hai quy trình sau.

Bản chất và cải cách thị trường của thị trường điện thường quyết định liệu các công ty điện có thể tham gia vào một số quy trình này mà không phải sở hữu toàn bộ cơ sở hạ tầng hay công dân chọn thành phần nào của cơ sở hạ tầng để bảo trợ. Ở những nước cung cấp điện được bãi bỏ, người sử dụng điện cuối cùng có thể lựa chọn điện sạch tốn kém hơn.

Các ngành công nghiệp điện trên thế giới :

Việc tổ chức ngành công nghiệp điện của một quốc gia hoặc khu vực khác nhau tùy thuộc vào hệ thống kinh tế của đất nước. Ở một số nơi, tất cả việc phát điện, truyền tải và phân phối điện được cung cấp bởi một tổ chức được chính phủ kiểm soát. Các khu vực khác có công ty sở hữu tư nhân hoặc nhà đầu tư sở hữu, thành phố hoặc các công ty thuộc sở hữu đô thị, các công ty hợp tác thuộc sở hữu của khách hàng của riêng họ hoặc kết hợp. Thế hệ, truyền tải và phân phối có thể được cung cấp bởi một công ty duy nhất, hoặc các tổ chức khác nhau có thể cung cấp từng phần của hệ thống này.

Cải cách thị trường :

Mô hình kinh doanh đằng sau các tiện ích điện đã thay đổi qua nhiều năm đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình ngành điện thành những gì hiện nay; từ thế hệ, truyền tải, phân phối đến bán lẻ địa phương cuối cùng. Điều này đã xảy ra nổi bật kể từ khi cải cách ngành công nghiệp cung cấp điện ở Anh và xứ Wales vào năm 1990.

Ở một số nước, thị trường bán buôn điện hoạt động, với máy phát điện và nhà bán lẻ giao dịch điện tương tự như cổ phiếu và tiền tệ. Khi việc bãi bỏ quy định tiếp tục, các tiện ích được định hướng để bán tài sản của họ khi thị trường năng lượng tuân theo thị trường khí đốt sử dụng thị trường giao ngay và thị trường giao ngay và các thỏa thuận tài chính khác. Ngay cả toàn cầu hóa với mua hàng nước ngoài đang diễn ra. Một trong những lần mua đó là khi National Grid của Vương quốc Anh, công ty điện tư nhân lớn nhất thế giới, đã mua hệ thống điện của New England với giá 3,2 tỷ đô la. Từ năm 1995 đến 1997, bảy trong số 12 công ty điện khu vực (REC) ở Anh và xứ Walesht bởi các công ty năng lượng của Hoa Kỳ.

Các công ty công nghiệp điện và khí đốt trong nước đã hợp nhất các hoạt động vì họ thấy lợi thế của liên doanh, đặc biệt là với chi phí giảm đồng đô la Mỹ. Tiến bộ công nghệ sẽ diễn ra tại các thị trường bán buôn điện cạnh tranh, ví dụ như đã được sử dụng bao gồm các tế bào nhiên liệu được sử dụng trong chuyến bay vũ trụ; tua bin khí hóa khí được sử dụng trong máy bay phản lực; kỹ thuật mặt trời và hệ thống quang điện; các trang trại gió ngoài khơi; và những tiến bộ truyền thông được sinh ra bởi thế giới kỹ thuật số, đặc biệt là với vi xử lý hỗ trợ theo dõi và điều phối.

Công nghiệp điện dự kiến ​​sẽ thấy nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai. Cách mạng thông tin phụ thuộc nhiều vào năng lượng điện. Các lĩnh vực tăng trưởng khác bao gồm các công nghệ mới độc quyền về điện, phát triển trong điều hòa không gian, quy trình công nghiệp và vận tải (ví dụ như xe lai, đầu máy xe lửa).

Xuân 2020